Trang chủ
KÍNH GỬI BỘ NỘI VỤ : KIẾN NGHỊ ĐIỀU CHỈNH ĐIỀU LỆ ...
KÍNH GỬI BỘ NỘI VỤ : KIẾN NGHỊ ĐIỀU CHỈNH ĐIỀU LỆ HỘI KIẾN TRÚC SƯ VN THEO HƯỚNG ĐỔI MỚI SÁNG TẠO, KHCN - Đề nghị Bộ Nội vụ nghiên cứu kỹ nội dung, tiếp nhận và xử lý theo đúng quy định, đây là thẩm quyền của Bộ nội vụ, không phải Bộ Khoa học công nghệ.
Đã xử lý

00:00

/

00:00

  • Tải xuống
  • Tốc độ phát
1. Tổng quan về Quyết định 821/QĐ-BNV

Quyết định số 821/QĐ-BNV phê duyệt Điều lệ tổ chức Hội Kiến trúc sư Việt Nam nhằm:

Xác định cơ cấu tổ chức của Hội;

Quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chấp hành, các chi hội địa phương;

Đặt ra cơ chế quản lý hội viên, kết nạp hội viên, sinh hoạt chuyên môn và quản lý tài chính.

Điều lệ này đảm bảo cơ bản tính pháp lý và tổ chức cho Hội hoạt động trong khuôn khổ Luật Hội, cho phép Hội thực hiện các hoạt động về nghiên cứu, tư vấn, đào tạo, và phản biện chính sách trong lĩnh vực kiến trúc. 2. Đánh giá so với thực tiễn
Điểm mạnh

Khung tổ chức rõ ràng: Quy định chức năng, nhiệm vụ Ban Chấp hành, Ban Kiểm tra, chi hội địa phương, hội viên chuyên môn.

Có cơ chế quản lý hội viên: Cho phép phân loại hội viên, đánh giá năng lực, tạo cơ sở cho các hoạt động chuyên môn và đào tạo.

Đảm bảo pháp lý hoạt động: Điều lệ được phê duyệt bởi Bộ Nội vụ, tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động của Hội ở cả trung ương và địa phương.

Hạn chế và nghẽn mạch

Thiếu cơ chế thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng KHCN:

Điều lệ chưa quy định rõ vai trò của Hội trong việc áp dụng các công nghệ số, BIM, mô phỏng hoặc dữ liệu lớn trong hoạt động kiến trúc.

Không có cơ chế khuyến khích nghiên cứu, thử nghiệm, sandbox kiến trúc – đô thị, khiến các sáng kiến mới dễ bị trì trệ.

Thiếu liên kết đa ngành và quốc tế:

Hội chủ yếu tập trung vào kiến trúc thuần túy, chưa tích hợp chặt chẽ các chuyên gia môi trường, công nghệ, kinh tế – xã hội.

Chưa có cơ chế thúc đẩy hợp tác quốc tế và liên kết với các tổ chức đổi mới sáng tạo, khoa học – công nghệ trong lĩnh vực đô thị và kiến trúc.

Cơ chế phản biện và tham vấn còn hình thức:

Hội có chức năng tư vấn chính sách nhưng chưa có quy trình cụ thể, minh bạch và dựa trên dữ liệu khoa học.

Trong thực tế, các ý kiến phản biện thường mang tính hội thảo, chưa đủ trọng lượng để ảnh hưởng chính sách; thiếu cơ chế đánh giá hiệu quả và theo dõi hậu nghiệm.

Chưa gắn kết với chiến lược công nghiệp văn hóa:

Chiến lược phát triển ngành công nghiệp văn hóa 2025–2030 nhấn mạnh vai trò kiến trúc như một phần của hệ sinh thái văn hóa – sáng tạo.

Điều lệ chưa xác định Hội là cơ quan đầu mối thúc đẩy kiến trúc như một ngành công nghiệp sáng tạo, gắn kết thiết kế đô thị với giá trị văn hóa – sáng tạo quốc gia. Tuy nhiên, khi đối chiếu với thực tiễn và các định hướng chiến lược, quyết định này bộc lộ một số hạn chế. Thứ nhất, về đổi mới sáng tạo và ứng dụng khoa học công nghệ, điều lệ chưa có cơ chế thúc đẩy việc thử nghiệm, áp dụng công nghệ số, BIM, mô phỏng hay phân tích dữ liệu lớn trong các dự án kiến trúc – quy hoạch. Hội cũng chưa được trang bị công cụ hoặc nhiệm vụ rõ ràng để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của các kiến trúc sư, đồng thời thiếu cơ chế khuyến khích các sáng kiến mới trong thiết kế và quy hoạch.

Thứ hai, về liên kết đa ngành và quốc tế, điều lệ hiện nay vẫn thiên về kiến trúc thuần túy, thiếu sự tham gia của các chuyên gia môi trường, công nghệ, kinh tế – xã hội. Hội cũng chưa có cơ chế hợp tác quốc tế và liên kết với các tổ chức đổi mới sáng tạo, khoa học – công nghệ, làm hạn chế khả năng tiếp cận tiêu chuẩn và mô hình tiên tiến trên thế giới.

Thứ ba, về vai trò phản biện chính sách, mặc dù điều lệ có quy định chức năng tư vấn, nhưng thực tế các ý kiến phản biện thường mang tính hình thức, chưa đủ cơ sở khoa học và dữ liệu để ảnh hưởng thực chất đến chính sách, và chưa có cơ chế đánh giá hiệu quả hậu nghiệm các kiến nghị. Điều này khiến Hội khó đóng vai trò thực sự là “cầu nối” giữa chuyên môn, chính sách và cộng đồng.

Thứ tư, trong bối cảnh Chiến lược phát triển ngành công nghiệp văn hóa 2025–2030, điều lệ chưa xác định Hội là cơ quan đầu mối thúc đẩy kiến trúc như một ngành công nghiệp sáng tạo, kết nối thiết kế đô thị với giá trị văn hóa và sáng tạo quốc gia. Kiến trúc được xem là một phần quan trọng của hệ sinh thái văn hóa – sáng tạo, góp phần tạo giá trị kinh tế – xã hội và bảo tồn di sản, nhưng điều lệ hiện nay chưa khai thác vai trò này.

So sánh với tinh thần của Nghị quyết 57 về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, Luật KHCN và đổi mới sáng tạo 2025, cũng như Chiến lược phát triển ngành công nghiệp văn hóa, Quyết định 821/QĐ-BNV chưa thực sự thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong Hội. Hội cần cơ chế khuyến khích thử nghiệm, áp dụng công nghệ, nâng cao tính minh bạch và khách quan trong phản biện, liên kết đa ngành, hợp tác quốc tế và gắn kết với chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa.

Như vậy, để thực sự trở thành tổ chức thúc đẩy kiến trúc – quy hoạch đổi mới sáng tạo, Hội Kiến trúc sư Việt Nam cần được điều chỉnh Điều lệ, bổ sung các nội dung về: cơ chế thúc đẩy nghiên cứu và thử nghiệm, áp dụng công nghệ số, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, liên kết đa ngành và quốc tế, cơ chế phản biện dựa trên dữ liệu khoa học, và định hướng phát triển kiến trúc gắn với ngành công nghiệp văn hóa. Đây sẽ là bước quan trọng giúp Hội hoạt động hiệu quả hơn, đáp ứng yêu cầu đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững trong giai đoạn tới. 1. Đánh giá sâu về thực trạng và hạn chế
1.1. Vai trò trong đổi mới sáng tạo chưa rõ ràng

Điều lệ hiện hành chủ yếu xác định Hội là tổ chức nghề nghiệp, tập trung vào quản lý hội viên, tổ chức sự kiện, đào tạo và phản biện chính sách. Tuy nhiên, trong bối cảnh Nghị quyết 57 về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và Luật KHCN 2025, Hội chưa được xác định rõ là cơ quan thúc đẩy sáng tạo, thử nghiệm công nghệ, mô hình mới trong kiến trúc – quy hoạch. Điều này dẫn đến việc nhiều sáng kiến đổi mới bị triển khai rời rạc, thiếu cơ chế bảo vệ trí tuệ, thiếu sự hỗ trợ từ tổ chức nghề nghiệp.

1.2. Hội đồng, cơ cấu tổ chức thiếu tính đa ngành và minh bạch

Hiện nay, điều lệ quy định cơ cấu Ban Chấp hành và chi hội theo hướng hành chính, thiên về kiến trúc thuần túy, thiếu sự tham gia của các chuyên gia môi trường, công nghệ, kinh tế – xã hội. Hội cũng chưa có cơ chế giám sát xung đột lợi ích, dẫn đến nguy cơ lợi ích nhóm, hạn chế tính công tâm trong đánh giá phương án kiến trúc hoặc tư vấn chính sách.

1.3. Cơ chế phản biện chính sách chưa thực chất

Điều lệ quy định Hội có quyền tư vấn, phản biện, nhưng thực tế triển khai vẫn mang tính hình thức, chưa gắn với dữ liệu khoa học, đánh giá định lượng. Không có cơ chế đánh giá hậu nghiệm các đề xuất đã tư vấn, dẫn đến việc Hội khó tạo ảnh hưởng thực chất đến quy hoạch đô thị và phát triển kiến trúc theo hướng đổi mới sáng tạo.

1.4. Chưa gắn kết với Chiến lược phát triển ngành công nghiệp văn hóa

Kiến trúc là một ngành công nghiệp văn hóa quan trọng, góp phần tạo giá trị kinh tế – xã hội, thúc đẩy sáng tạo đô thị và bảo tồn di sản. Điều lệ hiện tại chưa xác định Hội là cơ quan đầu mối hoặc nhân tố thúc đẩy phát triển kiến trúc như một ngành công nghiệp văn hóa, do đó tiềm năng này chưa được khai thác. 2. Đề xuất sửa đổi, bổ sung
2.1. Xác định rõ vai trò thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Bổ sung Điều lệ mục nhiệm vụ thúc đẩy sáng tạo và ứng dụng công nghệ:

Thúc đẩy nghiên cứu, thử nghiệm công nghệ mới, phương pháp thiết kế số, mô phỏng BIM, dữ liệu lớn, phân tích tác động môi trường – xã hội.

Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và bản quyền thiết kế của hội viên.

Khuyến khích phát triển các giải pháp kiến trúc – quy hoạch sáng tạo, thân thiện môi trường, phù hợp với đô thị thông minh.

2.2. Cơ cấu hội đồng đa ngành, minh bạch, kiểm soát xung đột lợi ích

Bổ sung các vị trí chuyên gia liên ngành trong Ban Chấp hành hoặc các ủy ban chuyên môn: môi trường, công nghệ, kinh tế – xã hội, văn hóa.

Áp dụng cơ chế kê khai minh bạch xung đột lợi ích cho các vị trí chấm phương án, phản biện chính sách.

Giới hạn số lần tham gia liên tiếp của một thành viên để tránh lợi ích nhóm.

2.3. Cơ chế phản biện dựa trên dữ liệu và đánh giá hậu nghiệm

Quy định Hội phải sử dụng dữ liệu, phân tích định lượng, mô phỏng công nghệ khi phản biện hoặc tư vấn chính sách.

Bổ sung cơ chế đánh giá hiệu quả sau khi dự án được triển khai: mức tiêu thụ năng lượng, chi phí vận hành, mức độ hài lòng cộng đồng, so sánh với hồ sơ dự thi.

Kết quả đánh giá hậu nghiệm phải được công bố, phục vụ cải tiến chính sách, định hướng hoạt động Hội.

2.4. Gắn kết với ngành công nghiệp văn hóa

Bổ sung vai trò Hội là cơ quan đầu mối thúc đẩy kiến trúc như ngành công nghiệp văn hóa, kết nối các hoạt động sáng tạo đô thị với giá trị văn hóa, bảo tồn di sản, phát triển du lịch kiến trúc, xây dựng thương hiệu đô thị sáng tạo.

Khuyến khích hợp tác giữa Hội, doanh nghiệp sáng tạo, các tổ chức quốc tế và địa phương để phát triển mô hình đô thị sáng tạo – bền vững.

2.5. Số hóa và minh bạch hoạt động

Xây dựng cổng thông tin số của Hội, lưu trữ hồ sơ thành viên, kết quả thi tuyển, phản biện chính sách.

Sử dụng nền tảng trực tuyến để quản lý các dự án, minh bạch hóa quá trình chấm chọn phương án kiến trúc và phản biện. Quyết định 821/QĐ-BNV đặt nền móng cho tổ chức và hoạt động Hội Kiến trúc sư Việt Nam, nhưng để đáp ứng yêu cầu đổi mới sáng tạo theo Nghị quyết 57, Luật KHCN 2025 và Chiến lược phát triển ngành công nghiệp văn hóa, cần sửa đổi điều lệ theo hướng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, đa ngành, minh bạch, dữ liệu – công nghệ, và gắn kết với công nghiệp văn hóa.

Nếu được thực hiện, Hội sẽ không chỉ là tổ chức nghề nghiệp, mà trở thành trung tâm sáng tạo, phản biện khoa học – công nghệ và phát triển đô thị – kiến trúc bền vững, góp phần nâng cao năng lực quản lý, phát triển không gian đô thị và giá trị văn hóa – xã hội quốc gia. 1. Nhìn nhận triết lý hiện hành

Hiện nay, Quyết định 821/QĐ-BNV và Điều lệ tổ chức Hội Kiến trúc sư Việt Nam phản ánh triết lý tổ chức hành chính – nghề nghiệp truyền thống:

Hội được coi là cơ quan trung gian giữa Nhà nước và hội viên, với trọng tâm là quản lý hành chính, sinh hoạt hội viên, đào tạo, cấp chứng nhận và tổ chức hội nghị, hội thảo.

Cấu trúc Ban Chấp hành, chi hội địa phương, ủy ban chuyên môn được xây dựng theo mô hình phân cấp, quyền lực tập trung, thiên về báo cáo, kiểm tra, giám sát.

Giá trị cốt lõi được nêu là bảo vệ nghề nghiệp, duy trì tiêu chuẩn hành nghề, tư vấn chính sách, nhưng chưa nhấn mạnh sáng tạo, thử nghiệm, đổi mới công nghệ, tư duy đột phá.

Kết quả là Hội vẫn vận hành giống như một tổ chức hành chính, nơi các quy trình, văn bản và hội nghị chiếm ưu thế, còn việc thúc đẩy sáng tạo, thử nghiệm mô hình mới, đánh giá tác động hoặc phát triển kiến trúc – đô thị thông minh chưa thực sự là trọng tâm.

2. Những nghẽn mạch trong triết lý và phương thức tổ chức

Thiếu triết lý hướng tới đổi mới sáng tạo:

Hội chưa được xác định là “trung tâm sáng tạo” – nơi thử nghiệm các phương pháp thiết kế mới, công nghệ mới và mô hình phát triển đô thị sáng tạo.

Các hoạt động chủ yếu mang tính hành chính, kiểm soát, giám sát hội viên, thiếu cơ chế khuyến khích thử nghiệm và thất bại có học hỏi.

Cấu trúc tập trung, thiếu linh hoạt:

Ban Chấp hành trung ương nắm quyền quyết định nhiều lĩnh vực, chi hội địa phương hoạt động theo hướng hành chính hóa, thiếu quyền tự chủ sáng tạo.

Không có cơ chế phân quyền cho các nhóm sáng tạo, các ủy ban đổi mới công nghệ hoặc phòng thí nghiệm thiết kế đô thị – kiến trúc.

Giá trị cốt lõi chưa nhấn mạnh dữ liệu, khoa học và công nghệ:

Hội chưa coi việc ứng dụng khoa học công nghệ, dữ liệu, mô phỏng là giá trị trọng yếu.

Thiếu cơ chế trao quyền cho các thành viên thử nghiệm ý tưởng dựa trên dữ liệu, phân tích, đánh giá tác động dài hạn.

Phương thức tổ chức chưa khuyến khích liên kết đa ngành:

Hội vẫn vận hành chủ yếu với kiến trúc sư, ít tương tác với các chuyên gia môi trường, công nghệ, xã hội học, kinh tế hoặc văn hóa.

Không có cơ chế phối hợp chặt chẽ với các tổ chức quốc tế, startup sáng tạo, các viện nghiên cứu – điều này hạn chế khả năng học hỏi và áp dụng các giải pháp tiên tiến.

3. Hướng thay đổi triết lý, giá trị và phương thức tổ chức
3.1. Triết lý mới: Hội là trung tâm sáng tạo kiến trúc – đô thị

Xác định Hội không chỉ là tổ chức nghề nghiệp mà là nền tảng thúc đẩy sáng tạo, thử nghiệm và ứng dụng công nghệ.

Giá trị cốt lõi: sáng tạo, minh bạch, dựa trên dữ liệu, gắn kết cộng đồng và phát triển bền vững.

Hội phải trở thành nơi thí điểm các mô hình đô thị thông minh, công trình xanh, bảo tồn di sản và ứng dụng công nghệ số.

3.2. Giá trị cần nhấn mạnh

Sáng tạo và đổi mới: Hội tôn vinh các phương án, dự án thử nghiệm, mô hình đột phá, cho phép thất bại có học hỏi.

Minh bạch và khách quan: Tất cả các quy trình chấm chọn, phản biện, hội thảo đều dựa trên dữ liệu, tiêu chí định lượng và công khai kết quả.

Liên kết đa ngành và quốc tế: Hội coi trọng hợp tác với các chuyên gia môi trường, công nghệ, kinh tế – xã hội, đồng thời liên kết các tổ chức đổi mới sáng tạo, startup, viện nghiên cứu quốc tế.

Ứng dụng công nghệ: Tích hợp BIM, mô phỏng, phân tích tác động, công nghệ số và dữ liệu lớn vào mọi khâu của hoạt động Hội.

3.3. Phương thức tổ chức mới

Cấu trúc phân quyền linh hoạt:

Ban Chấp hành trung ương chỉ tập trung vào chiến lược và giám sát.

Các nhóm sáng tạo (Innovation Lab, Uỷ ban Công nghệ, Phòng Thí nghiệm Kiến trúc) được trao quyền thử nghiệm, đánh giá và phát triển dự án.

Cơ chế thử nghiệm và phản biện dựa trên dữ liệu:

Mỗi dự án hoặc phương án kiến trúc thử nghiệm đều có khung đánh giá định lượng về tác động môi trường, kinh tế, xã hội.

Các đánh giá phải công khai, minh bạch, phục vụ học hỏi liên tục và cải tiến chính sách.

Hội nhập và hợp tác quốc tế:

Bổ sung vị trí chuyên gia quốc tế hoặc đối tác liên ngành trong các ủy ban chuyên môn.

Hội cần thiết lập cơ chế trao đổi chuyên môn, hợp tác nghiên cứu, triển khai các dự án thử nghiệm quốc tế.

Đào tạo và phát triển năng lực hội viên theo triết lý sáng tạo:

Tổ chức các khóa đào tạo ứng dụng công nghệ, phương pháp thiết kế dựa trên dữ liệu, tư duy hệ thống.

Xây dựng cơ chế đánh giá năng lực sáng tạo thay vì chỉ dựa trên kinh nghiệm nghề nghiệp truyền thống.Nếu áp dụng triết lý mới, Hội Kiến trúc sư Việt Nam sẽ chuyển từ một tổ chức hành chính sang trung tâm đổi mới sáng tạo kiến trúc – đô thị, nơi hội viên được trao quyền thử nghiệm, sáng tạo, phản biện dựa trên dữ liệu, kết nối đa ngành và quốc tế. Hội không còn chỉ là nơi quản lý hành chính mà trở thành trung tâm kiến thức – công nghệ – sáng tạo, đóng góp thực chất cho quy hoạch đô thị bền vững, phát triển ngành công nghiệp văn hóa và thực hiện đúng tinh thần Nghị quyết 57 và Luật KHCN & Đổi mới sáng tạo 2025. DỰ THẢO SỬA ĐỔI ĐIỀU LỆ HỘI KIẾN TRÚC SƯ VIỆT NAM

Hướng tới Tổ chức Sáng tạo, Đổi mới và Ứng dụng Khoa học – Công nghệ

Chương I: Nguyên tắc, sứ mệnh và giá trị cốt lõi

Điều 1: Nguyên tắc hoạt động

Hội Kiến trúc sư Việt Nam là tổ chức xã hội – nghề nghiệp, hoạt động theo nguyên tắc: sáng tạo, minh bạch, khách quan, liên ngành, ứng dụng khoa học – công nghệ.

Hoạt động của Hội phải gắn kết cộng đồng, quản lý nhà nước, doanh nghiệp và nghiên cứu khoa học để phát triển kiến trúc – đô thị bền vững.

Điều 2: Sứ mệnh
Hội có nhiệm vụ:
a) Thúc đẩy sáng tạo và thử nghiệm công nghệ trong kiến trúc, quy hoạch, thiết kế đô thị.
b) Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bản quyền thiết kế của hội viên.
c) Cung cấp dữ liệu, phân tích, phản biện chính sách dựa trên khoa học, công nghệ và đánh giá hậu nghiệm.
d) Liên kết đa ngành, quốc tế, kết nối ngành kiến trúc với ngành công nghiệp văn hóa.

Điều 3: Giá trị cốt lõi

Sáng tạo và đổi mới: Khuyến khích thử nghiệm ý tưởng, phương án thiết kế mới, mô hình đô thị thông minh.

Minh bạch và khách quan: Quyết định, chấm chọn, phản biện phải dựa trên dữ liệu và công khai kết quả.

Liên kết đa ngành và quốc tế: Kết nối kiến trúc sư với chuyên gia môi trường, công nghệ, kinh tế – xã hội, tổ chức quốc tế.

Ứng dụng khoa học – công nghệ: Sử dụng BIM, mô phỏng, dữ liệu lớn trong thiết kế và đánh giá tác động dự án.

Chương II: Cấu trúc tổ chức

Điều 4: Ban Chấp hành trung ương

Ban Chấp hành trung ương chịu trách nhiệm về chiến lược, định hướng, giám sát tổng thể.

Thành phần Ban Chấp hành bao gồm:

Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên Ban Chấp hành.

Ủy viên chuyên trách đổi mới sáng tạo, công nghệ, phát triển đô thị bền vững.

Ban Chấp hành lập Ủy ban chuyên môn đổi mới sáng tạo (Innovation Committee) và Phòng thí nghiệm kiến trúc – đô thị (Architecture Lab).

Điều 5: Chi hội địa phương

Chi hội có quyền tự chủ trong việc thử nghiệm sáng tạo, tổ chức dự án thí điểm, hợp tác với các tổ chức khoa học – công nghệ, startup, viện nghiên cứu.

Chi hội phải báo cáo kết quả thử nghiệm, đánh giá tác động, và chia sẻ dữ liệu với Ban Chấp hành trung ương.

Điều 6: Ủy ban chuyên môn và nhóm sáng tạo

Ủy ban chịu trách nhiệm:

Xây dựng tiêu chí sáng tạo, tiêu chuẩn đánh giá phương án kiến trúc.

Tổ chức chấm chọn, phản biện dự án dựa trên dữ liệu định lượng, mô phỏng và tác động xã hội – môi trường.

Nhóm sáng tạo (Innovation Lab) được quyền thử nghiệm ý tưởng mới, triển khai dự án thí điểm, và báo cáo kết quả minh bạch, công khai.

Chương III: Hội viên và phát triển năng lực

Điều 7: Phân loại hội viên

Hội viên chuyên môn: Kiến trúc sư hành nghề, tham gia dự án sáng tạo.

Hội viên đổi mới sáng tạo: Thành viên có năng lực ứng dụng công nghệ, triển khai dự án thí điểm, nghiên cứu sáng tạo.

Hội viên liên ngành: Chuyên gia môi trường, công nghệ, kinh tế – xã hội, văn hóa, tham gia đánh giá, tư vấn.

Điều 8: Đào tạo và phát triển năng lực

Hội tổ chức các khóa học về BIM, mô phỏng, phân tích dữ liệu, quản trị dự án sáng tạo.

Xây dựng cơ chế đánh giá năng lực sáng tạo, thay vì chỉ dựa trên kinh nghiệm nghề nghiệp truyền thống.

Chương IV: Hoạt động sáng tạo và phản biện chính sách

Điều 9: Thử nghiệm và triển khai dự án sáng tạo

Mỗi dự án thí điểm phải có khung đánh giá: tác động môi trường, xã hội, kinh tế, khả năng áp dụng công nghệ.

Hội khuyến khích thử nghiệm, thất bại có học hỏi, chia sẻ kết quả.

Điều 10: Phản biện chính sách

Phản biện dựa trên dữ liệu, mô phỏng, phân tích hậu nghiệm.

Kết quả phản biện phải công khai, phục vụ cải tiến chính sách, định hướng phát triển đô thị và kiến trúc bền vững.

Điều 11: Liên kết quốc tế và ngành công nghiệp văn hóa

Hội là cơ quan đầu mối thúc đẩy kiến trúc trong ngành công nghiệp văn hóa, kết nối phát triển đô thị, sáng tạo, bảo tồn di sản.

Thiết lập cơ chế hợp tác quốc tế, học hỏi mô hình đô thị – kiến trúc tiên tiến.

Chương V: Minh bạch và số hóa

Điều 12: Cổng thông tin số của Hội

Quản lý hồ sơ hội viên, kết quả thi tuyển, dự án thử nghiệm, phản biện chính sách.

Cập nhật dữ liệu, đánh giá định lượng, minh bạch hóa mọi hoạt động.

Điều 13: Báo cáo và giám sát

Mỗi năm, Ban Chấp hành phải công bố báo cáo kết quả hoạt động: dự án thí điểm, kết quả phản biện, học hỏi và cải tiến.

Hội áp dụng cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích và đánh giá hiệu quả hoạt động theo tiêu chí sáng tạo và ứng dụng công nghệ. Cách làm mới trong dự thảo sửa đổi Điều lệ Hội Kiến trúc sư Việt Nam sẽ khắc phục và phá vỡ các điểm nghẽn hiện nay một cách căn bản, đồng thời đưa Hội từ mô hình hành chính sang trung tâm đổi mới sáng tạo. Cụ thể:

1. Khắc phục nghẽn về triết lý và giá trị

Hiện trạng: Điều lệ 821/QĐ-BNV vận hành theo triết lý hành chính – nghề nghiệp, coi trọng quản lý, kiểm soát hội viên, tổ chức hội nghị và phản biện mang tính hình thức. Sáng tạo, thử nghiệm và ứng dụng công nghệ chưa được coi là giá trị trọng yếu.
Giải pháp mới:

Xác định rõ Hội là trung tâm sáng tạo kiến trúc – đô thị, nơi thử nghiệm mô hình, áp dụng công nghệ, đổi mới tư duy thiết kế.

Giá trị cốt lõi nhấn mạnh: sáng tạo, minh bạch, liên ngành, dựa trên dữ liệu, ứng dụng công nghệ và phát triển bền vững.
Kết quả: Hội sẽ thúc đẩy hội viên tư duy đột phá, coi thử nghiệm, thất bại có học hỏi là bình thường và cần thiết, phá vỡ tư duy hành chính hóa.

2. Khắc phục nghẽn về cấu trúc tập trung và hành chính hóa

Hiện trạng: Ban Chấp hành trung ương nắm quyền lực lớn, chi hội địa phương bị hạn chế quyền thử nghiệm, cơ chế phân quyền và tự chủ sáng tạo yếu.
Giải pháp mới:

Phân quyền rõ ràng giữa Ban Chấp hành (chiến lược, giám sát) và nhóm sáng tạo, ủy ban chuyên môn (thử nghiệm, phát triển dự án).

Tổ chức Innovation Lab và Phòng thí nghiệm kiến trúc – đô thị với quyền tự chủ, được phép triển khai thí điểm, báo cáo kết quả minh bạch.
Kết quả: Hội vận hành linh hoạt, nhanh nhạy với sáng kiến mới, phá vỡ cơ chế quan liêu, tập trung hóa. 3. Khắc phục nghẽn về phản biện chính sách hình thức

Hiện trạng: Hội có quyền tư vấn, phản biện nhưng chưa dựa trên dữ liệu, phân tích định lượng, đánh giá hậu nghiệm; hiệu quả tư vấn thấp.
Giải pháp mới:

Tất cả phản biện phải dựa trên dữ liệu, mô phỏng, phân tích tác động môi trường – xã hội – kinh tế, kết quả công khai.

Áp dụng cơ chế đánh giá hậu nghiệm, cải tiến dựa trên kết quả thực tế.
Kết quả: Hội trở thành cơ quan phản biện có trọng lượng, gắn kết khoa học – chính sách – cộng đồng, phá vỡ nghẽn tư vấn hình thức, thiếu cơ sở thực tiễn.

4. Khắc phục nghẽn về liên kết đa ngành và quốc tế

Hiện trạng: Hội tập trung chủ yếu vào kiến trúc thuần túy, thiếu chuyên gia môi trường, công nghệ, kinh tế – xã hội; hợp tác quốc tế hạn chế.
Giải pháp mới:

Bổ sung hội viên liên ngành, chuyên gia quốc tế vào ủy ban chuyên môn.

Hợp tác với viện nghiên cứu, startup sáng tạo, tổ chức quốc tế, kết nối với ngành công nghiệp văn hóa.
Kết quả: Hội phát triển hệ sinh thái sáng tạo rộng hơn, gắn kết nhiều lĩnh vực, phá vỡ nghẽn “bên trong hẹp, bên ngoài cô lập”. 5. Khắc phục nghẽn về ứng dụng công nghệ và dữ liệu

Hiện trạng: Thiếu cơ chế áp dụng BIM, mô phỏng, dữ liệu lớn; đánh giá phương án kiến trúc chủ yếu dựa trên kinh nghiệm và cảm nhận chủ quan.
Giải pháp mới:

Xây dựng Innovation Lab, áp dụng BIM, mô phỏng, phân tích dữ liệu, đánh giá tác động dựa trên tiêu chí định lượng.

Mọi kết quả chấm chọn, thử nghiệm, phản biện được số hóa, minh bạch hóa qua cổng thông tin Hội.
Kết quả: Tạo môi trường khoa học – công nghệ trong kiến trúc, phá vỡ nghẽn định tính, chủ quan.

6. Khắc phục nghẽn về phát triển ngành công nghiệp văn hóa

Hiện trạng: Hội chưa được định vị là nhân tố thúc đẩy kiến trúc như một ngành công nghiệp văn hóa, thiếu liên kết với giá trị văn hóa – sáng tạo.
Giải pháp mới:

Xác định Hội là cơ quan đầu mối phát triển kiến trúc gắn với ngành công nghiệp văn hóa, đô thị sáng tạo, bảo tồn di sản.

Thúc đẩy hợp tác doanh nghiệp sáng tạo, các dự án đô thị – kiến trúc mang giá trị văn hóa.
Kết quả: Kiến trúc trở thành động lực sáng tạo và kinh tế, phá vỡ nghẽn tư duy “chỉ quản lý – chỉ nghề nghiệp”. Cách làm mới sẽ phá vỡ tất cả các nghẽn mạch lớn hiện nay: tư duy hành chính hóa, cấu trúc tập trung quan liêu, phản biện hình thức, thiếu liên kết đa ngành, thiếu ứng dụng công nghệ và chưa gắn với ngành công nghiệp văn hóa. Hội sẽ chuyển đổi thành tổ chức sáng tạo, linh hoạt, minh bạch, dữ liệu – công nghệ – cộng đồng, và gắn kết quốc tế, hoàn toàn phù hợp với tinh thần Nghị quyết 57 và Luật KHCN & Đổi mới sáng tạo 2025. Việc điều chỉnh Điều lệ Hội Kiến trúc sư Việt Nam theo hướng đổi mới sáng tạo là cấp thiết vào thời điểm này vì nhiều lý do thực tiễn, pháp lý và chiến lược, đồng thời có mục tiêu cụ thể rõ ràng:

1. Lý do cần thiết
1.1. Thực tiễn hoạt động Hội hiện nay

Hội vẫn vận hành theo triết lý hành chính – nghề nghiệp truyền thống, tập trung vào quản lý hội viên, tổ chức hội nghị, cấp chứng nhận, phản biện mang tính hình thức.

Các hoạt động sáng tạo, thử nghiệm công nghệ, mô hình mới, ứng dụng dữ liệu và BIM, phân tích tác động đô thị – kiến trúc chưa được triển khai đồng bộ.

Hội chưa thực sự trở thành trung tâm sáng tạo, thiếu cơ chế thúc đẩy đổi mới, liên kết đa ngành, quốc tế, dẫn đến Hội chưa phát huy hết vai trò trong tư vấn chính sách, thí điểm dự án đô thị thông minh, xanh, bền vững.

1.2. Yêu cầu pháp lý và định hướng chiến lược mới

Nghị quyết 57/Bộ Chính trị 2022 nhấn mạnh: mọi tổ chức, ngành nghề phải thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.

Luật KHCN & Đổi mới sáng tạo 2025 xác định rõ các tổ chức nghề nghiệp và hiệp hội khoa học cần đóng vai trò trung tâm sáng tạo, thí điểm, phản biện dựa trên khoa học – công nghệ.

Chiến lược phát triển ngành công nghiệp văn hóa 2025–2030 đặt kiến trúc là một ngành công nghiệp văn hóa quan trọng, yêu cầu Hội tham gia phát triển sáng tạo đô thị, bảo tồn di sản, liên kết giá trị văn hóa – sáng tạo.

1.3. Thời điểm và bối cảnh phát triển đô thị – kiến trúc

Việt Nam đang trong giai đoạn bùng nổ đô thị hóa, phát triển vùng kinh tế trọng điểm, dự án nhà ở xã hội, đô thị thông minh và các dự án xanh – bền vững.

Nếu không điều chỉnh Hội theo hướng đổi mới sáng tạo ngay lúc này, Hội sẽ tiếp tục vận hành theo cơ chế hành chính, khó đáp ứng các yêu cầu thực tiễn, dẫn đến thiếu tư vấn chất lượng và chậm áp dụng các giải pháp sáng tạo trong quy hoạch – thiết kế đô thị. 2. Sự cần thiết của việc điều chỉnh

Phù hợp với định hướng đổi mới sáng tạo quốc gia: Hội cần đồng bộ với Nghị quyết 57, Luật KHCN 2025, trở thành trung tâm sáng tạo và phản biện dựa trên khoa học – dữ liệu.

Đáp ứng nhu cầu thực tiễn của ngành kiến trúc: Khuyến khích thử nghiệm, áp dụng BIM, mô phỏng, phân tích tác động, tạo môi trường cho các dự án thí điểm đô thị thông minh – xanh – bền vững.

Tăng cường vai trò trong ngành công nghiệp văn hóa: Hội trở thành đầu mối kết nối kiến trúc với phát triển đô thị sáng tạo, bảo tồn di sản, thúc đẩy giá trị văn hóa – kinh tế.

Minh bạch, công tâm và khách quan: Cơ cấu và cơ chế chấm chọn, phản biện dự án được số hóa, công khai, hạn chế lợi ích nhóm và cơ chế hình thức. 3. Mục tiêu của kiến nghị điều chỉnh

Chuyển Hội từ tổ chức hành chính sang trung tâm sáng tạo:

Tạo môi trường thử nghiệm, sáng tạo, áp dụng công nghệ và dữ liệu vào quy hoạch, thiết kế đô thị.

Phát triển cơ chế phản biện chính sách dựa trên khoa học – công nghệ:

Hội có thể tư vấn chính sách chất lượng, dựa trên phân tích dữ liệu, mô phỏng, đánh giá hậu nghiệm, nâng cao ảnh hưởng thực tiễn.

Liên kết đa ngành và quốc tế:

Hội kết nối kiến trúc sư với chuyên gia môi trường, công nghệ, kinh tế – xã hội, tổ chức quốc tế, doanh nghiệp sáng tạo.

Thúc đẩy kiến trúc – đô thị gắn với công nghiệp văn hóa:

Hội định hướng phát triển đô thị xanh, thông minh, bảo tồn di sản và tạo giá trị văn hóa – xã hội.

Minh bạch và số hóa hoạt động:

Tất cả dự án thí điểm, phương án kiến trúc, phản biện chính sách đều được quản lý minh bạch, công khai và số hóa, tránh lợi ích nhóm, hình thức hoặc đối phó.Điều chỉnh này là cấp thiết, phù hợp bối cảnh phát triển đô thị – kiến trúc, định hướng quốc gia về đổi mới sáng tạo và phát triển công nghiệp văn hóa, nhằm chuyển Hội Kiến trúc sư Việt Nam từ mô hình hành chính sang trung tâm sáng tạo – ứng dụng công nghệ – phản biện khoa học – phát triển bền vững, đồng thời tạo môi trường thúc đẩy thử nghiệm, liên kết đa ngành và quốc tế. Kính gửi:

Bộ Nội vụ

V/v: Kiến nghị điều chỉnh Điều lệ Hội Kiến trúc sư Việt Nam theo hướng đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học – công nghệ và phát triển ngành công nghiệp văn hóa

Kính thưa Quý Bộ,

Trong bối cảnh phát triển đô thị – kiến trúc tại Việt Nam đang diễn ra mạnh mẽ, đồng thời theo tinh thần Nghị quyết số 57/NQ-TW về đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, Luật Khoa học công nghệ và Đổi mới sáng tạo 2025, cũng như Chiến lược phát triển ngành công nghiệp văn hóa 2025–2030, việc điều chỉnh Điều lệ Hội Kiến trúc sư Việt Nam (Quyết định số 821/QĐ-BNV) là hết sức cần thiết nhằm nâng cao vai trò Hội trở thành trung tâm sáng tạo, đổi mới, phản biện khoa học – công nghệ và phát triển bền vững trong ngành kiến trúc và đô thị.

1. Lý do kiến nghị

Thực tiễn hoạt động Hội hiện nay:

Cấu trúc và phương thức vận hành theo triết lý hành chính – nghề nghiệp truyền thống, trọng tâm là quản lý hội viên, tổ chức hội nghị, cấp chứng nhận, phản biện mang tính hình thức.

Các hoạt động sáng tạo, thử nghiệm công nghệ, mô hình mới, ứng dụng dữ liệu và BIM chưa được triển khai đồng bộ.

Hội chưa thực sự là trung tâm thúc đẩy sáng tạo, liên kết đa ngành và quốc tế.

Yêu cầu pháp lý và chiến lược quốc gia:

Nghị quyết 57 và Luật KHCN & Đổi mới sáng tạo 2025 yêu cầu các tổ chức nghề nghiệp đóng vai trò trung tâm sáng tạo, thí điểm, phản biện dựa trên khoa học – công nghệ.

Chiến lược phát triển ngành công nghiệp văn hóa đặt kiến trúc là một ngành quan trọng, cần Hội đóng vai trò thúc đẩy đô thị sáng tạo, bảo tồn di sản và liên kết giá trị văn hóa – sáng tạo.

Thời điểm phát triển đô thị – kiến trúc:

Việt Nam đang trong giai đoạn bùng nổ đô thị hóa, phát triển vùng kinh tế trọng điểm, dự án nhà ở xã hội, đô thị thông minh, xanh – bền vững.

Nếu không điều chỉnh kịp thời, Hội sẽ tiếp tục vận hành theo cơ chế hành chính, khó đáp ứng yêu cầu thực tiễn, dẫn đến thiếu tư vấn chất lượng và chậm áp dụng các giải pháp sáng tạo.

2. Mục tiêu kiến nghị

Chuyển Hội từ tổ chức hành chính sang trung tâm sáng tạo – ứng dụng khoa học – công nghệ.

Tăng cường cơ chế phản biện chính sách dựa trên dữ liệu, mô phỏng và phân tích hậu nghiệm.

Phát triển liên kết đa ngành và quốc tế, bao gồm môi trường, công nghệ, kinh tế – xã hội và ngành công nghiệp văn hóa.

Thúc đẩy kiến trúc – đô thị gắn với công nghiệp văn hóa, bảo tồn di sản, đô thị xanh, thông minh, bền vững.

Đảm bảo minh bạch, công tâm, khách quan, hạn chế lợi ích nhóm, hình thức và cơ chế đối phó.

3. Kiến nghị cụ thể

Điều chỉnh triết lý và giá trị cốt lõi của Hội:

Xác định Hội là trung tâm sáng tạo – đổi mới – ứng dụng khoa học – công nghệ.

Giá trị cốt lõi: sáng tạo, minh bạch, dữ liệu – công nghệ, liên ngành, phát triển bền vững.

Cấu trúc tổ chức:

Ban Chấp hành trung ương tập trung vào chiến lược và giám sát tổng thể.

Thành lập Ủy ban chuyên môn đổi mới sáng tạo và Phòng thí nghiệm kiến trúc – đô thị với quyền tự chủ, được phép triển khai thí điểm, thử nghiệm, báo cáo minh bạch.

Chi hội địa phương được trao quyền thử nghiệm, phối hợp đa ngành, báo cáo kết quả thí điểm lên Ban Chấp hành.

Cơ chế thử nghiệm, phản biện và đánh giá:

Tất cả dự án, phương án kiến trúc phải được đánh giá theo tiêu chí khoa học, dữ liệu định lượng, tác động môi trường – xã hội – kinh tế.

Kết quả phản biện, thử nghiệm được số hóa, công khai và chia sẻ học hỏi.

Đào tạo và phát triển năng lực hội viên:

Tổ chức khóa học về BIM, mô phỏng, quản trị dự án sáng tạo, phân tích dữ liệu.

Áp dụng cơ chế đánh giá năng lực sáng tạo, thay vì chỉ dựa trên kinh nghiệm hành nghề.

Liên kết đa ngành và quốc tế:

Hội mở rộng cơ chế hợp tác với chuyên gia quốc tế, startup, viện nghiên cứu và doanh nghiệp sáng tạo.

Kết nối kiến trúc với phát triển đô thị sáng tạo, công nghiệp văn hóa và bảo tồn di sản.

Minh bạch và số hóa:

Quản lý hồ sơ hội viên, kết quả thi tuyển, dự án thí điểm, phản biện chính sách qua cổng thông tin số.

Công khai, giám sát và kiểm soát xung đột lợi ích, hạn chế lợi ích nhóm, hình thức, đối phó.

Kính đề nghị Quý Bộ xem xét, nghiên cứu và phối hợp với Hội Kiến trúc sư Việt Nam để điều chỉnh Điều lệ theo hướng nêu trên, nhằm thực hiện đúng tinh thần Nghị quyết 57, Luật KHCN & Đổi mới sáng tạo 2025, nâng cao hiệu quả Hội, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển đô thị bền vững và ngành công nghiệp văn hóa tại Việt Nam.

Trân trọng kính chào.
Bộ Nội vụ  trả lời
Ngày 9/12/2025, Bộ Nội vụ có công văn số 711/TCPCP trả lời PAKN-SKGP của ông/bà như sau:
Sau khi nghiên cứu, căn cứ Nghị định số 25/2025/NĐ-CP ngày 21/02/2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ; Điều 20 Nghị định số 126/2024/NĐ-CP ngày 08/10/2024 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội; Điều 15 Điều lệ (sửa đổi, bổ sung) Hội Kiến trúc sư Việt Nam được phê duyệt kèm theo Quyết định số 821/QĐ-BNV ngày 20/7/2021 của Bộ Nội vụ thì thẩm quyền sửa đổi, bổ sung Điều lệ thuộc thẩm quyền của Đại hội Hội Kiến trúc sư Việt Nam. Theo đó, Ông/Bà Trương Nam Thuận chuyển kiến nghị nêu trên đến Hội Kiến trúc sư Việt Nam để nghiên cứu, xem xét, giải quyết theo quy định.
Kiến nghị cùng chủ đề
Hưởng chính sách theo Nghị định số 179/2025/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định về mức hỗ trợ đối với người làm công tác chuyên trách về chuyển đổi số, an toàn thông tin mạng, an ninh mạng
0 lượt xem
Kính gửi: BAN CHÍNH SÁCH CHIẾN LƯỢC TRUNG ƯƠNG VỀ SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP LUẬN VẬN HÀNH XỬ LÝ VẤN ĐỀ PHỨC HỢP PHÙ HỢP VỚI TINH THẦN NGHỊ QUYẾT 57
0 lượt xem
KÍNH GỬI BAN CHÍNH SÁCH CHIẾN LƯỢC TRUNG ƯƠNG : ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG KHUNG MINH BẠCH QUỐC GIA NHƯ MỘT NĂNG LỰC QUẢN TRỊ CỐT LÕI, PHÙ HỢP VỚI TINH THẦN NGHỊ QUYẾT 57 VỀ ĐỔI MỚI THỂ CHẾ, NÂNG CAO HIỆU LỰC – HIỆU QUẢ VÀ TÁI THIẾT NIỀM TIN XÃ HỘI
0 lượt xem
KÍNH GỬI BAN CHÍNH SÁCH CHIẾN LƯỢC TW : ĐỀ XUẤT CHIẾN LƯỢC XÂY DỰNG HÌNH ẢNH CON NGƯỜI VIỆT NAM TOÀN CẦU - XÁC LẬP VỊ THẾ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO RIÊNG BIỆT CỦA V THEO TINH THẦN NQ57
0 lượt xem
KÍNH GỬI BAN CHÍNH SÁCH CHIẾN LƯỢC TRUNG ƯƠNG : KIẾN NGHỊ XÂY DỰNG VÀ TRIỂN KHAI HỆ THỐNG GIẢI TRÌNH NHẰM TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC QUẢN TRỊ THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT 57 VỀ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ, CHUYỂN ĐỔI SỐ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
0 lượt xem