Tôi là chuyên viên Đảng ủy xã Tuyên Quang, có bằng cử nhân công nghệ thông tin. Trước làm Quản trị mạng tại Thành ủy Phan Thiết; sau khi sáp nhập tôi được bố trí công tác tại Văn phòng Đảng ủy xã Tuyên Quang. Qua thông tin được biết, các phường, xã bạn đã có cán bộ có quyết định và đã bắt đầu thực hiện chi trả, truy lĩnh theo quy định. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng ở phường, xã phải thành lập bộ phận chuyển đổi số rồi mới có quyết định cho cán bộ phụ trách chuyển đổi số. Vậy cho tôi được hỏi là ở phường, xã sẽ thực hiện như thế nào để đúng quy định, có cần thành lập bộ phận chuyển đổi số không hay chỉ cần ban hành quyết định phân công cán bộ phụ trách chuyển đổi số, an ninh, an toàn thông tin mạng.
#Cơ chế phát triển nguồn nhân lực cho KH, CN, ĐMST và CĐSQG
Người gửi: Phạm Hoàng Minh Khôi Thời gian gửi: 13/01/2026
Đề nghị giải quyết việc lấn chiếm mốc lộ giới hành lang đường bộ đoạn quốc lộ 14, xã Đức Lập, tỉnh Lâm Đồng
#Nội chính - Pháp luật
Người gửi: Nguyễn Văn Trường Thời gian gửi: 07/01/2026
Cán bộ được phân công phụ trách công nghệ thông tin, chuyển đổi số cơ yếu của bên đảng ủy xã có được hưởng chế độ theo nghị định 179 không? Nếu được thì cần những điều kiện cụ thể nào? Đề nghị có văn bản hướng dẫn chi tiết để thực hiện?
Người gửi: Nguyễn Anh Thanh Thời gian gửi: 06/01/2026
Xin vui lòng xem file đính kèm. Trân trọng !
Người gửi: TRƯƠNG NAM THUẬN Thời gian gửi: 29/12/2025
1. Hiện trạng:
Từ tháng 8/2025, Ban Chỉ đạo chuyển đổi số các cơ quan Đảng và Văn phòng Trung ương đã triển khai “Hệ thống thông tin giám sát, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị” (Sau đây gọi là “Hệ thống 57") bao gồm các chức năng:
- Thu thập, tổng hợp, và hiển thị dữ liệu về các KPIs (Key Performance Indicators) vĩ mô và tiến độ thực hiện nhiệm vụ liên quan đến NQ57;
- Cung cấp các công cụ phân tích, báo cáo, và cảnh báo để hỗ trợ ra quyết định; - Tạo môi trường cộng tác cho các bên liên quan (Ban Chỉ đạo, Bộ/Ngành, địa phương);
- Kết nối, tích hợp, chia sẻ với các Hệ thống của Bộ ngành, địa phương.
Về cơ bản, các đơn vị thuộc Tỉnh ủy Lạng Sơn đã triển khai “Hệ thống 57” đáp ứng yêu cầu của Trung ương. Tuy nhiên, hiện tại mô hình triển khai các nhiệm vụ của “Hệ thống 57” được thiết kế theo các nghiệp vụ mô hình 3 cấp; mặc dù hệ thống cho phép các tỉnh/thành phố chủ động tạo nhiệm vụ nhưng theo thông tin và dữ liệu chung toàn quốc, chưa phù hợp hoàn toàn với đặc thù của Tỉnh Lạng Sơn, cụ thể:
+ Chưa tùy biến các hệ thống dashboard điều hành theo mong muốn của Lãnh đạo Thành ủy và lãnh đạo các cấp để phù hợp với các Chương trình công tác, Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết, dự án trọng điểm của tỉnh, nhiệm vụ do tỉnh chỉ đạo, theo dõi.
+ Chưa cho phép tỉnh Lạng Sơn tạo các nhiệm vụ riêng có của tỉnh Lạng Sơn theo từng chỉ tiêu, yêu cầu cụ thể.
+ Chưa cho phép tương tác, liên thông dữ liệu theo dõi đôn đốc nhiệm vụ với với HĐND tỉnh, UBND tỉnh , Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh và các cơ quan, đơn vị, xã, phường.
2. Đề xuất kiến nghị:
Hiện tại, tỉnh Lạng Sơn có khá nhiều nhiệm vụ được phân giao từ Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, HĐND tỉnh xuống các Sở, ngành, xã, phường và chi tiết đến từng đơn vị, cá nhân chủ trì, phối hợp. Theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XVIII, trong giai đoạn 2025-2030, tỉnh Lạng Sơn sẽ triển khai rất nhiều nhiệm vụ trọng tâm, đặc biệt, những nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội rất lớn với sự tham gia của nhiều cơ quan, ban ngành, nhiều đơn vị chủ trì, phối hợp, vì vậy rất cần một hệ thống theo dõi, đôn đốc xuyên suốt và theo thời gian thực.
Tỉnh ủy Lạng Sơn mong muốn được triển khai mở rộng các chức năng của “Hệ thống 57” phục vụ công tác quản lý, đôn đốc nhiệm vụ, đáp ứng các yêu cầu của tỉnh Lạng Sơn, đồng thời được tích hợp, đồng bộ trên nền tảng của “Hệ thống 57".
Tỉnh ủy Lạng Sơn kính báo cáo Ban Chỉ đạo chuyển đổi số các cơ quan Đảng, Văn phòng Trung ương Đảng xem xét phê duyệt và giao Tỉnh ủy Lạng Sơn triển khai.
Tỉnh ủy Lạng Sơn cam kết sẽ thực hiện bài bản, nghiêm túc, phối hợp chặt chẽ với Văn phòng Trung ương và với các đối tác hiện đang triển khai “Hệ thống 57” để triển khai hiệu quả, thiết thực góp phần vào công cuộc chuyển đổi số của Đảng, phục vụ tốt cho công tác quản lý, điều hành của Tỉnh ủy Lạng Sơn.
Trân trọng./.
#Cơ chế phát triển hạ tầng số và bảo đảm an toàn thông tin mạng
Người gửi: Nguyễn Văn Dũng Thời gian gửi: 26/12/2025
Cần chế độ chính sách cho công chức làm công tác chuyển đổi số để nâng cao chất lượng đội ngũ công chức thực hiện nhiệm vụ chuyển đổi số
#Cơ chế phát triển nguồn nhân lực cho KH, CN, ĐMST và CĐSQG
Người gửi: Hoàng Anh Minh Thời gian gửi: 22/12/2025
Kính đề nghị các cơ quan liên quan sớm có hướng dẫn cụ thể về quy trình thủ tục để cán bộ làm công tác chuyển đổi số được hưởng chế độ chính sách theo Nghị định số 179. Hiện nay Thành phố Hồ Chí Minh chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về chính sách này.
Người gửi: Nguyễn Thanh Sang Thời gian gửi: 17/12/2025
Kính gửi: Ban Chính sách Chiến lược Trung ương
V/v: Đề xuất chiến lược xây dựng hình ảnh quốc gia và phát triển con người dựa trên “Đặc tính Việt Nam”
Kính thưa Quý Ban,
Trong bối cảnh thế giới hiện nay đang bước vào giai đoạn đa cực, phức hợp và đầy biến động, Việt Nam cần có một chiến lược dài hạn, đồng bộ và khả thi, nhằm nâng cao vị thế quốc gia, củng cố bản sắc văn hóa và phát triển năng lực con người, đồng thời xây dựng sức mạnh mềm bền vững, tạo ảnh hưởng tích cực trên bình diện quốc tế.
I. Cơ sở lý luận và luận chứng
Nhận thức về quốc gia và con người:
Theo lý luận hiện đại về quyền lực mềm và chiến lược quốc gia, vị thế một quốc gia không chỉ được đo bằng quyền lực cứng, tài nguyên hay quy mô kinh tế, mà còn bằng năng lực vận hành xã hội và đặc tính con người. Các nghiên cứu về Soft Power (Joseph Nye) và Nation Branding (Simon Anholt) cho thấy quốc gia có chiến lược con người rõ ràng, giá trị văn hóa minh bạch và năng lực sáng tạo cao sẽ được quốc tế ghi nhận và tôn trọng.
Kinh nghiệm quốc tế:
Nhật Bản: Xây dựng hình ảnh dựa trên kỷ luật, sáng tạo và tinh tế trong văn hóa, sản phẩm và công nghệ, trở thành điểm neo uy tín và sáng tạo trên toàn cầu.
Hàn Quốc: Hệ thống chiến lược văn hóa – giáo dục – giải trí đồng bộ, mang lại sức ảnh hưởng mềm rộng khắp qua K-Pop, phim ảnh, giáo dục và thương mại.
Các nước Bắc Âu: Sử dụng chiến lược con người và minh bạch pháp lý để tạo uy tín, khả năng phối hợp đa phương và năng lực quản trị phức hợp.
Cơ sở nội sinh của Việt Nam:
Lịch sử Việt Nam hình thành một năng lực thích ứng, sáng tạo, kiên trì và điều phối trong môi trường phức hợp;
Văn hóa Việt Nam tạo ra giá trị cộng đồng, đạo đức, tôn trọng luật lệ mềm, giúp con người vận hành tốt trong các tầng giữa của xã hội;
Thể chế chính trị và pháp luật đã đặt con người là trung tâm, cung cấp cơ sở pháp lý để phát triển năng lực cá nhân và tập thể.
Từ những cơ sở này, chúng tôi đề xuất khái niệm “Đặc tính Việt Nam”:
“Đặc tính Việt Nam” là tập hợp các giá trị, năng lực và cách hành xử xuất phát từ lịch sử, văn hóa, truyền thống và thể chế pháp quyền, hình thành trong con người và xã hội Việt Nam, tạo ra khả năng vận hành hiệu quả trong môi trường phức hợp, đa chuẩn mực và toàn cầu, đồng thời nâng cao vị thế quốc gia và sức ảnh hưởng mềm trên trường quốc tế.”
II. Mục tiêu của đề xuất
Ngắn hạn (3–5 năm):
Xây dựng nhận thức hệ thống về “Đặc tính Việt Nam” trong các cơ quan quản lý, giáo dục và văn hóa;
Thiết kế các chương trình phát triển con người và đào tạo năng lực thích ứng, sáng tạo;
Triển khai các hoạt động quảng bá hình ảnh quốc gia gắn với đặc tính con người.
Trung hạn (5–10 năm):
Hình thành thương hiệu quốc gia được quốc tế nhận diện qua giá trị con người, văn hóa và sáng tạo;
Tạo ra các “đại sứ Việt Nam” trong các tổ chức quốc tế, doanh nghiệp, học thuật và văn hóa;
Tăng cường ảnh hưởng tích cực, thiện cảm quốc tế và năng lực hội nhập.
Dài hạn (10–20 năm):
Xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia có sức ảnh hưởng mềm ổn định, cạnh tranh trong các lĩnh vực chiến lược, không chỉ dựa vào kinh tế hay quân sự;
Người Việt Nam toàn cầu hiện diện với đặc tính rõ ràng, khả năng phối hợp đa tầng, sáng tạo và tôn trọng giá trị cộng đồng;
Củng cố sự phát triển bền vững, bảo toàn bản sắc, nâng cao uy tín và vị thế quốc gia.
III. Bản chất của đề xuất
Bản chất của chiến lược này là chuyển đổi tư duy về xây dựng quốc gia từ chủ thể sang đặc tính:
Không chỉ dựa vào lãnh thổ, dân số hay quyền lực cứng, mà dựa vào giá trị và năng lực con người;
Đặc tính Việt Nam là tài sản chiến lược nội sinh, được bảo vệ, phát triển và xuất khẩu qua giáo dục, văn hóa, du lịch, khoa học công nghệ và quan hệ quốc tế;
Đây là quyền lực mềm có khả năng cạnh tranh lâu dài, tạo ra ảnh hưởng ổn định, giúp Việt Nam chủ động định hình các tầng giữa của thế giới: giữa kinh tế – chính trị – xã hội – văn hóa.
IV. Trụ cột chiến lược
Chiến lược con người – Đặc tính Việt Nam: phát triển năng lực thích ứng, sáng tạo, phối hợp và kiên trì; tích hợp văn hóa, lịch sử và đạo đức xã hội.
Xây dựng thương hiệu quốc gia: kết hợp văn hóa truyền thống, sản phẩm sáng tạo, con người năng động, môi trường pháp lý minh bạch; xuất khẩu hình ảnh tích cực ra quốc tế.
Đo lường, đánh giá và điều chỉnh: xây dựng chỉ số “Đặc tính Việt Nam”, theo dõi tiến độ, đánh giá tác động, điều chỉnh chính sách để nâng cao ảnh hưởng và uy tín quốc gia.
Kết quả kỳ vọng: tăng đầu tư, thu hút nhân tài, nâng cao thiện cảm quốc tế, người Việt Nam hiện diện toàn cầu nhưng vẫn giữ đặc tính Việt Nam, tạo ra sức ảnh hưởng mềm bền vững.
Kính thưa Quý Ban, với cơ sở lý luận, luận chứng và mục tiêu nêu trên, chúng tôi kính đề nghị Ban Chính sách Chiến lược Trung ương xem xét, chỉ đạo và định hướng triển khai nghiên cứu, hoàn thiện và áp dụng chiến lược này, nhằm đưa Việt Nam trở thành quốc gia có sức mạnh mềm cạnh tranh và đặc trưng văn hóa – con người rõ ràng trên trường quốc tế.
Trân trọng kính chào!
Người gửi: TRƯƠNG NAM THUẬN Thời gian gửi: 15/12/2025
Để cải thiện ứng dụng chuyển đổi số, cần tập trung vào nâng cao nhận thức và kỹ năng số cho mọi người, đầu tư hạ tầng số đồng bộ, phát triển nội dung số chất lượng, hoàn thiện thể chế pháp lý, phát triển nhân lực, và ứng dụng công nghệ mới như AI, Big Data để nâng cao hiệu quả, tạo giá trị mới, và tăng năng suất. Các giải pháp bao gồm đào tạo, phổ cập thiết bị, xây dựng nền tảng số, và thúc đẩy hợp tác quốc tế để bắt kịp xu hướng công nghệ.
Vướng mắc, rào cản của người dân trong chuyển đổi số.
Khi đi họp, dự hội nghị thay vì quét mã QR tài liệu. Người dân có thể nghe trực tuyến - khi click vào file Audio nghe giảng. (Tránh tải và lo sợ mất thông tin cá nhân khi quét mã).
Sẽ đem lại hiệu quả thiết thực cho cả cán bộ đảng viên cao tuổi khi sinh hoạt chi bộ... Đồng thời góp phần rút ngắn thời gian triển khai và tiếp thu.
#Thủ tục hành chính và quy trình triển khai KH, CN, ĐMST và CĐSQG
Người gửi: Nguyễn Thị Hằng Nga Thời gian gửi: 15/12/2025
Khi triển khai chính quyền địa phương 2 cấp, tất cả những phụ cấp của cán bộ, công chức huyện được bảo lưu 6 tháng. Tuy nhiên theo Hướng dẫn số 50-HD/BTCTW, ngày 01/7/2011 của Ban Tổ chức Trung ương Đảng về hướng dẫn thực hiện một số chế độ phụ cấp đối với cán bộ, công chức Cơ quan Đảng, Đoàn thể chính trị - xã hội và tiền lương của hội cựu chiến binh Việt Nam theo thông báo số 13-TB/TW ngày 28/3/2011 của Bộ Chính trị thì thực hiện phụ cấp 30% công tác đảng từ Trung ương đến cấp huyện. Kính đề nghị các cơ quan Trung ương có hướng dẫn mới về việc thực hiện phụ cấp công tác đảng khi thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp.
Người gửi: PHẠM THỊ QUỲNH TRANG Thời gian gửi: 15/12/2025
Xin vui lòng xem file đính kèm !
Người gửi: TRƯƠNG NAM THUẬN Thời gian gửi: 13/12/2025
Hiện tôi đang công tác tại cơ quan Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh Gia Lai và được phân công chuyên trách công nghệ thông tin, chuyển đổi số cho các cơ quan, đơn vị thuộc Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh và hệ thống MTTQ cấp xã. Về trình độ chuyên môn tôi tốt nghiệp chuyên ngành Khoa học máy tính. Vậy tôi có được hưởng trợ cấp 5.000.000đ/tháng theo Nghị định 179/2025/NĐ-CP, ngày 01/7/2025 của Chính phủ hay không?. Xin chân thành cám ơn!
#Thể chế, pháp luật và chính sách hỗ trợ trong KH, CN, ĐMST và CĐSQG
Người gửi: Mai Khánh Nguyên Thời gian gửi: 13/12/2025
Thư kiến nghị gửi Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương
về việc nghiên cứu, thể chế hóa Chương LIÊN NGÀNH trong các đạo luật
Kính gửi: Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương
Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn điều hành ở nhiều cấp và quan sát trực tiếp những khó khăn mà người dân, doanh nghiệp cũng như đội ngũ thực thi đang gặp phải, tôi xin trân trọng gửi tới Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương bản kiến nghị về việc nghiên cứu và thể chế hóa Chương LIÊN NGÀNH trong các đạo luật, trước hết là các luật tổ chức và các luật điều chỉnh những lĩnh vực có tính liên ngành, liên cấp cao.
Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật nước ta hiện nay không thiếu quy định, nhưng còn thiếu một cơ chế pháp lý đủ mạnh để tổ chức mối quan hệ giữa các quy định đó khi cùng lúc đi vào đời sống thực. Phần lớn các luật được xây dựng theo logic ngành dọc, trong khi các vấn đề phát triển ngày càng mang tính phức hợp, liên quan đồng thời đến nhiều lĩnh vực, nhiều cấp quản lý và nhiều chủ thể khác nhau. Khoảng cách này đã và đang tạo ra những hệ quả rõ rệt: trách nhiệm bị phân mảnh, phối hợp mang tính hình thức, rủi ro pháp lý đổ dồn về người thực thi, thời gian và chi phí xã hội gia tăng, niềm tin của người dân và doanh nghiệp bị bào mòn.
Từ thực tiễn đó, đề xuất bổ sung Chương LIÊN NGÀNH không nhằm “bịt lỗ hổng” hay “siết trách nhiệm” theo nghĩa hành chính, mà nhằm nâng cấp năng lực điều hành của Nhà nước trong bối cảnh pháp luật chồng chéo và nhiệm vụ ngày càng liên ngành. Chương LIÊN NGÀNH được hiểu là một cấu phần mang tính nguyên tắc trong luật, làm rõ cách thức phối hợp giữa ngành dọc và ngành ngang, xác định cơ quan chủ trì chịu trách nhiệm tổng thể cho từng nhóm nhiệm vụ cụ thể, quy định nghĩa vụ phối hợp, thời hạn xử lý và cơ chế giải trình của các bên liên quan.
Một điểm đặc biệt quan trọng của kiến nghị này là cách tiếp cận thận trọng, có lộ trình. Chương LIÊN NGÀNH không nên được áp dụng đồng loạt ngay từ đầu, mà cần có cơ chế chuyển tiếp và thử nghiệm có kiểm soát. Trước mắt, có thể áp dụng thí điểm đối với một số nhóm nhiệm vụ liên ngành điển hình, nơi sự chồng chéo pháp luật và đùn đẩy trách nhiệm đã bộc lộ rõ, như đầu tư công, phát triển đô thị, quản lý đất đai, hạ tầng và các dự án trọng điểm. Thông qua thí điểm, Nhà nước có thể đánh giá, điều chỉnh và hoàn thiện mô hình trước khi mở rộng.
Bên cạnh đó, việc trao quyền điều phối liên ngành cần được đi kèm cơ chế kiểm soát quyền lực và xử lý rủi ro phù hợp. Chương LIÊN NGÀNH cần làm rõ ranh giới giữa điều phối và áp đặt, giữa trách nhiệm tổng thể và thẩm quyền chuyên môn; đồng thời thiết kế các cơ chế minh bạch quy trình, trách nhiệm giải trình hai chiều và can thiệp theo tầng khi việc điều phối không đạt yêu cầu. Mục tiêu không phải là tập trung quyền lực, mà là phân bổ lại trách nhiệm một cách hợp lý, có đối trọng và có khả năng tự điều chỉnh.
Quan trọng hơn cả, Chương LIÊN NGÀNH cần được định vị như một công cụ hỗ trợ người thực thi, bảo vệ cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm trong bối cảnh pháp luật còn giao thoa và chưa hoàn toàn thống nhất. Khi quyết định được đưa ra đúng quy trình liên ngành, có đầy đủ ý kiến chuyên môn và tuân thủ nguyên tắc pháp lý đã được luật hóa, thì người thực thi cần được bảo vệ trước các rủi ro phát sinh ngoài ý chí chủ quan. Đây là điều kiện then chốt để khơi thông tinh thần chủ động, sáng tạo trong bộ máy.
Đối với người dân và doanh nghiệp, lợi ích của Chương LIÊN NGÀNH thể hiện trực tiếp và cụ thể: giảm số vòng thủ tục, rút ngắn thời gian xử lý, minh bạch đầu mối chịu trách nhiệm, từ đó giảm chi phí không chính thức và tăng khả năng dự đoán. Khi gánh nặng phối hợp được chuyển từ người dân sang Nhà nước, cải cách thể chế mới thực sự chạm đến đời sống và tạo được đồng thuận xã hội.
Với vai trò là cơ quan tham mưu chiến lược cho Trung ương, tôi kính đề nghị Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương xem xét đưa nội dung xây dựng và thể chế hóa Chương LIÊN NGÀNH vào chương trình nghiên cứu, tổng kết thực tiễn và kiến nghị chính sách trong thời gian tới. Trước mắt, có thể xây dựng một khung nguyên tắc chung mang tính phổ quát, làm cơ sở để áp dụng thống nhất trong quá trình sửa đổi, ban hành các đạo luật có liên quan.
Tôi tin rằng, nếu được tiếp cận với tâm thế kiến tạo, thận trọng và dựa trên thực tiễn điều hành, Chương LIÊN NGÀNH sẽ trở thành một bước tiến quan trọng trong cải cách thể chế, góp phần nâng cao năng lực quản trị quốc gia, củng cố niềm tin xã hội và thúc đẩy phát triển bền vững.
Xin trân trọng cảm ơn Ban đã dành thời gian xem xét kiến nghị này.
Kính mong nhận được sự quan tâm và chỉ đạo trong thời gian tới.
Trân trọng kính thư. - Xin vui lòng xem file đính kèm !
Người gửi: TRƯƠNG NAM THUẬN Thời gian gửi: 13/12/2025
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu khoa học trong trường phổ thông đã và đang nhận được nhiều sự quan tâm từ nhà trường, gia đình và các cơ quan quản lý giáo dục. Các cuộc thi sáng tạo khoa học kỹ thuật không chỉ khuyến khích học sinh nghiên cứu, vận dụng kiến thức đã học để có những sáng kiến, giải pháp sáng tạo, hiệu quả nhằm giải quyết các yêu cầu thực tiễn cuộc sống, mà còn góp phần thúc đẩy đổi mới hình thức và phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập và phát triển năng lực của học sinh theo tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Nhiều đề tài có nội dung và phương pháp nghiên cứu phù hợp, thực hiện tiến trình nghiên cứu, ghi chép nhật trình và trình bày báo cáo khoa học theo đúng yêu cầu của một công trình khoa học. Một số đề tài đã tiếp cận những vấn đề có tính khái quát cao hoặc cần những kỹ thuật được thực hiện trong các phòng thí nghiệm hiện đại, giúp rèn luyện và nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học cho học sinh, giúp học sinh hình thành khả năng tìm tòi, khám phá, tăng tư duy logic và phân tích. Học sinh cũng được rèn luyện kỹ năng áp dụng kiến thức vào thực tiễn, từ đó học tập hiệu quả hơn.
Hiện nay, nhiều cuộc thi khoa học kỹ thuật được tổ chức rộng khắp cả nước. Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tích cực, các cuộc thi khoa học – kỹ thuật dành cho học sinh vẫn còn tồn tại một số hạn chế. Báo chí đã nhiều lần phản ánh các dự án có hiện tượng trùng lặp, sao chép, vẫn còn những dự án được cho rằng vượt tầm học sinh phổ thông và thiếu tính ứng dụng thực tế.
Trước những bất cập trên, Bộ Giáo dục và đào tạo đã ban hành Thông tư 06/2024 ban hành Quy chế cuộc thi nghiên cứu khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông với nhiều nội dung thay đổi. Quy chế này thay thế Thông tư 38/2012/TT-BGDĐT ban hành từ năm 2012. Năm nay là năm đầu tiên Cuộc thi Khoa học kỹ thuật được tổ chức theo quy chế mới. So với quy chế trước đây, quy chế mới đã có nhiều thay đổi, khác biệt về mục đích, yêu cầu, quy trình tổ chức. Theo đó, Quy chế mới nhấn mạnh yêu cầu: Nội dung nghiên cứu khoa học, kỹ thuật của học sinh bảo đảm thiết thực, phù hợp với tâm lý lứa tuổi và yêu cầu phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh theo mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông. Đồng thời, Thông tư 06 cũng yêu cầu việc tổ chức cho học sinh tham gia nghiên cứu khoa học kỹ thuật đảm bảo an toàn, nghiêm túc, công khai, minh bạch, phù hợp với năng lực, sở trường, hứng thú và tự nguyện tham gia của học sinh”. Như vậy, có thể thấy Quy chế mới đặt mục tiêu việc nghiên cứu phải thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, góp phần phát triển năng lực học sinh. Những quy định mới nhằm tránh hiện tượng sao chép, nâng cao tính thực tiễn của các dự án nghiên cứu.
Thông tư 06 là bước tiến quan trọng để hoàn thiện quy trình tổ chức các cuộc thi khoa học kỹ thuật, đảm bảo công bằng và nâng cao chất lượng nghiên cứu trong học sinh phổ thông. Việc triển khai nghiên cứu khoa học trong trường phổ thông không phải là một nhiệm vụ đơn giản, đòi hỏi sự đầu tư về thời gian và công sức, đặc biệt là vai trò của giáo viên trong việc khơi gợi đam mê nghiên cứu ở học sinh. Để hoạt động này trở nên thiết thực và hiệu quả hơn, cần có những chương trình, kế hoạch cụ thể nhằm hỗ trợ học sinh từ khâu hình thành ý tưởng đến phát triển mô hình, sản phẩm khoa học – kỹ thuật. Bên cạnh đó, việc cung cấp cơ sở vật chất đầy đủ, nâng cao năng lực hướng dẫn của giáo viên và đảm bảo tính công bằng trong đánh giá các đề tài cũng là những yếu tố quan trọng giúp nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học trong học sinh phổ thông, góp phần tạo ra một môi trường học tập sáng tạo, đổi mới và thực tiễn hơn.
#Chính sách phát triển và ứng dụng công nghệ mới, công nghệ tiên tiến (dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, internet vạn vật, chuỗi khối,…)
Người gửi: Vũ Văn Quang Thời gian gửi: 13/12/2025
Kính gửi Bộ Khoa học và Công nghệ! Tôi công tác tại phòng VHXH thuộc UBND xã, vị trí đảm nhiệm: KHCN kiêm nhiệm thông tin truyền thông (phụ trách công việc cả ngành KHCN ở cấp xã) và được CT UBND xã phân công chuyên trách nhiệm vụ chuyển đổi số của UBND xã (có Quyết định) và căn cứ theo Đề án vị trí việc làm của UBND xã phê duyệt (có vị trí thông tin truyền thông- CĐS). Tuy nhiên, tôi không có trình độ chuyên môn về Công nghệ Thông tin (văn bằng CNTT) nhưng tôi vẫn đảm nhiệm tốt công việc chuyên trách chuyển đổi số của mình tại UBND xã như những người khác cùng VTVL ở xã khác. Như vậy, cho tôi hỏi: 1) Tôi có thuộc đối tượng được hưởng chế độ theo nghị định số 179 không? 2) Trong quy định của Thông tư số 23/2025/TT-BKHCN có quy định nào bắt buộc phải có văn bằng đúng ngành, lĩnh vực công nghệ thông tin mới được hưởng chế độ theo nghị định số 179 không? 3) Có thể căn cứ vào VTVL và được cấp có thẩm quyền quyết định phân công/bố trí đúng VTVL để xác định đối tượng được hưởng chế độ không?(P/s: Tôi có thấy Bộ KH&CN trả lời cho câu hỏi tương tự trước đây của anh Lê Minh Chiến, nhưng tôi vẫn muốn nhận được câu trả lời từ Bộ KH&CN cho trường hợp của tôi). Trân trọng cảm ơn Bộ KH&CN!
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng Gấm Thời gian gửi: 12/12/2025
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã có văn bản trả lời kiến nghị của ông Trương Nam Thuận MÃ 2025_PAKN_1101085734014 liên quan đến việc điều chỉnh Nghị định số 94/2025/NĐ-CP theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Văn bản này nêu các lập luận cơ bản như sau:
Nội dung kiến nghị của ông Trương Nam Thuận không thuộc phạm vi PAKN, SKGP theo Quy chế số 03-QC/BCĐTW ngày 23/6/2025 (Quy chế 03).
Trong tổng số 41 kiến nghị:
23 kiến nghị đã được quy định tại Nghị định 94/2025/NĐ-CP, do vậy không cần bổ sung hay sửa đổi.
18 kiến nghị còn lại được phân loại là “không phù hợp” để sửa đổi trong giai đoạn hiện nay, gồm:
11 kiến nghị liên quan đến giáo dục tài chính và chứng chỉ, không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định.
5 kiến nghị liên quan cơ chế tài chính đặc thù và giới hạn hoạt động, chưa phù hợp trong giai đoạn thí điểm.
2 kiến nghị thuộc cấp chỉ đạo cao hơn, mang tính hoạch định chính sách chiến lược.
Một số nhận định trong kiến nghị không kèm tài liệu, số liệu minh chứng, do đó chưa đảm bảo tính khách quan và chính xác.
NHNN nhấn mạnh trách nhiệm định kỳ tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện Nghị định, đồng thời ghi nhận ý kiến của công dân.
Dựa trên nội dung này, có thể làm rõ một số vấn đề , từ góc độ minh bạch, rõ ràng và cơ sở pháp lý, như sau:
I. Việc áp dụng Quy chế 03
1. Lập luận NHNN
NHNN trích dẫn Điều 3 và Điều 8 của Quy chế 03 để kết luận rằng nội dung kiến nghị “không thuộc phạm vi PAKN, SKGP” và “không đáp ứng yêu cầu về nội dung”.
2. Phân tích khách quan
Quy chế 03 xác định phạm vi PAKN, SKGP và yêu cầu về hình thức: trung thực, rõ ràng, có tài liệu minh chứng nếu có.
Tuy nhiên, văn bản NHNN áp dụng Quy chế một cách tổng quát, không đánh giá từng kiến nghị cụ thể. Điều này tạo ra khoảng hở: người gửi kiến nghị không biết mục nào được coi là không hợp lệ theo tiêu chí nào, dẫn đến thiếu minh bạch.
NHNN cũng không chỉ rõ loại bằng chứng cần thiết hoặc cách hoàn thiện nội dung kiến nghị để đáp ứng quy định. Việc này làm hạn chế khả năng công dân tiếp tục đóng góp thông tin bổ sung một cách hiệu quả.
Đề xuất: NHNN có thể cung cấp hướng dẫn cụ thể về việc hoàn thiện kiến nghị để đáp ứng Quy chế 03, đồng thời đánh giá từng kiến nghị nhằm đảm bảo minh bạch, khách quan.
II. Khẳng định “23/41 kiến nghị đã có quy định”
1. Lập luận NHNN
23/41 kiến nghị được coi là đã có trong Nghị định 94/2025/NĐ-CP, ví dụ minh bạch thông tin lãi suất, phí, điều khoản hợp đồng, trách nhiệm nền tảng, cơ chế giải quyết khiếu nại, giám sát rủi ro, công khai trạng thái thử nghiệm.
2. Phân tích
Văn bản không trích dẫn cụ thể điều, khoản, hoặc nội dung Nghị định tương ứng với từng kiến nghị, dẫn đến khó kiểm chứng.
“Có quy định” không đồng nghĩa với “đã thực hiện hiệu quả” trong thực tiễn. Một số kiến nghị có thể tồn tại vùng trống thực thi, ví dụ thông tin lãi suất, phí ẩn, bảo mật dữ liệu.
Việc trích dẫn đầy đủ và cụ thể sẽ giúp minh bạch, đồng thời tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho quyết định tiếp nhận hoặc chuyển tiếp kiến nghị.
Đề xuất: NHNN có thể cung cấp bảng đối chiếu chi tiết từng kiến nghị với điều khoản Nghị định để công dân và cơ quan liên quan cùng theo dõi.
III. Kiến nghị về giáo dục tài chính và chứng chỉ
1. Lập luận NHNN
11 kiến nghị liên quan chứng chỉ, giáo dục tài chính được cho là “không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định”, vì Nghị định tập trung quản lý giải pháp Fintech và rủi ro tổ chức cung ứng.
2. Phân tích khách quan
Nghị quyết số 57-NQ/TW nhấn mạnh nâng cao năng lực công dân trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trong đó giáo dục tài chính là thành phần quan trọng.
Việc từ chối trực tiếp các kiến nghị này có thể bỏ qua khả năng phối hợp liên ngành (NHNN – Bộ GD&ĐT – Bộ TT&TT) để nâng cao hiệu quả quản lý Fintech.
Khoảng hở: văn bản NHNN chưa đề xuất cơ chế liên ngành hoặc hướng dẫn công dân về cách đưa kiến nghị này vào chương trình hành động quốc gia.
Khoảng hở nhận thấy:
Nghị quyết 57-NQ/TW nhấn mạnh nâng cao năng lực công dân trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trong đó giáo dục tài chính là thành phần quan trọng;
Việc từ chối tiếp nhận trực tiếp có thể bỏ lỡ cơ hội phối hợp liên ngành nâng cao hiệu quả quản lý Fintech.
Đề xuất: NHNN có thể hướng dẫn cơ chế phối hợp liên ngành, ví dụ với Bộ GD&ĐT, Bộ TT&TT, để các kiến nghị này được xem xét trong chương trình hành động quốc gia
IV. Kiến nghị cơ chế tài chính đặc thù và giới hạn hoạt động
1. Lập luận NHNN
5 kiến nghị không phù hợp trong giai đoạn thí điểm.
2. Phân tích khách quan
Văn bản không nêu tiêu chí đánh giá “không phù hợp”, ví dụ rủi ro hệ thống, mức độ can thiệp, điều kiện dữ liệu.
Không nêu thời điểm hoặc điều kiện để xem xét lại. Khoảng hở này có thể dẫn đến kiến nghị bị loại trừ vĩnh viễn mà không có cơ hội thử nghiệm, đánh giá.
IV. Về 5 kiến nghị cơ chế tài chính đặc thù và giới hạn hoạt động
NHNN nêu chưa phù hợp để áp dụng trong giai đoạn thí điểm.
Khoảng hở:
Văn bản không nêu tiêu chí đánh giá “không phù hợp”;
Không xác định thời điểm hoặc điều kiện để xem xét lại sau giai đoạn thí điểm.
Đề xuất: NHNN có thể đưa ra khung thời gian, điều kiện xem xét lại, để các kiến nghị này không bị loại bỏ vĩnh viễn.
V. Tài liệu minh chứng
1. Lập luận NHNN
Một số nhận định trong kiến nghị không kèm tài liệu, số liệu minh chứng, do đó chưa khách quan, rõ ràng, chính xác.
2. Phân tích khách quan
Khi kiến nghị đề cập đến thực trạng, rủi ro hoặc hành vi chưa được quan sát công khai, công dân không có dữ liệu nội bộ.
NHNN có năng lực và trách nhiệm rà soát, kiểm chứng, cung cấp dữ liệu hoặc hướng dẫn loại bằng chứng cần thiết. Việc chỉ yêu cầu công dân bổ sung mà không có hướng dẫn tạo ra khoảng hở trong quy trình tiếp nhận.
Khoảng hở:
Công dân không có quyền truy cập dữ liệu nội bộ của NHNN để chứng minh;
Văn bản chưa hướng dẫn cụ thể loại minh chứng nào là đủ theo Quy chế 03.
Đề xuất: NHNN có thể hướng dẫn cụ thể dạng minh chứng cần thiết hoặc phối hợp cung cấp thông tin để kiến nghị được xem xét khách quan.
VI. Phạm vi phối hợp liên ngành
Văn bản NHNN ghi nhận kiến nghị nhưng không nêu cơ chế phối hợp với các bộ liên quan (Bộ GD&ĐT, Bộ TT&TT, Bộ Công Thương).
Khoảng hở: kiến nghị mang tính hệ thống và liên ngành nhưng văn bản trả lời chưa chỉ ra đường dẫn xử lý, thời hạn hay cơ chế theo dõi.
V. Về 2 kiến nghị cấp hoạch định chính sách chiến lược
NHNN cho rằng cần được tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền.
Đề xuất: NHNN hướng dẫn cụ thể về kênh tổng hợp, thời hạn báo cáo, cơ chế theo dõi, nhằm đảm bảo kiến nghị không bị bỏ sót và có cơ hội đóng góp vào hoạch định chính sách.
VII. Hệ quả thực tiễn
Nếu các khoảng hở trên không được xử lý, kiến nghị dễ bị hiểu là “bị loại” vì hình thức, thay vì đánh giá nội dung, thực tiễn và tác động.
Việc minh bạch điều khoản trích dẫn, tiêu chí “không phù hợp”, hướng dẫn bổ sung tài liệu và phối hợp liên ngành sẽ nâng cao hiệu quả tiếp nhận PAKN, SKGP và góp phần hoàn thiện chính sách.
Kết luận và đề xuất chung
Cần minh bạch việc đánh giá “không phù hợp” và các tiêu chí áp dụng;
Trích dẫn cụ thể điều khoản Nghị định 94/2025/NĐ-CP liên quan kiến nghị;
Hướng dẫn chi tiết cách bổ sung minh chứng, dữ liệu;
Xác định cơ chế phối hợp liên ngành để xử lý kiến nghị;
Cung cấp thời hạn xem xét lại kiến nghị trong giai đoạn tiếp theo.
Việc thực hiện các đề xuất trên sẽ góp phần tăng cường minh bạch, hiệu quả tiếp nhận kiến nghị, đồng thời đảm bảo quá trình hoàn thiện cơ chế, chính sách Fintech và đổi mới sáng tạo được đầy đủ, khách quan và khả thi.
Trên cơ sở Quy chế số 03-QC/BCĐTW ngày 23/6/2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cụ thể là các quy định tại:
Khoản 1 Điều 3, về phạm vi phản ánh, kiến nghị, sáng kiến, giải pháp (PAKN, SKGP) của cá nhân, tổ chức đối với cơ chế, chính sách, pháp luật, thủ tục hành chính liên quan đến phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia;
Khoản 2 Điều 8, về yêu cầu nội dung PAKN, SKGP phải trung thực, khách quan, rõ ràng, chính xác, kèm tài liệu minh chứng để phục vụ xác minh và phản hồi;
và căn cứ tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới sáng tạo, nâng cao minh bạch, hiệu quả quản lý Nhà nước, tôi kính nhờ Ngân hàng Nhà nước hỗ trợ làm rõ, cụ thể và minh bạch các nội dung sau: Việc làm rõ các nội dung trên sẽ giúp công dân hoàn thiện kiến nghị của mình một cách trọn vẹn, khách quan và đúng quy định, đồng thời góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và sự tham gia tích cực của xã hội trong quá trình triển khai Nghị định 94/2025/NĐ-CP và các chính sách thí điểm liên quan đến Fintech, chuyển đổi số.
Tôi trân trọng kính nhờ NHNN xem xét, hỗ trợ và phản hồi các nội dung nêu trên.
Người gửi: TRƯƠNG NAM THUẬN Thời gian gửi: 12/12/2025
Phát triển từ giải pháp trừ điểm trên giấy phép lái xe, trên cơ sở tận dụng thành quả của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và Đề án 06 về dữ liệu dân cư, tôi xin đề xuất bổ sung vào Văn kiện Đại hội XIV nhiệm vụ xây dựng hệ thống "Chỉ số Giá trị Công dân" (Civic Value Index - CVI)
#Thể chế, pháp luật và chính sách hỗ trợ trong KH, CN, ĐMST và CĐSQG
Người gửi: Bùi Thiện Huy Thời gian gửi: 10/12/2025
Kính gửi: Ban Chính sách — Chiến lược Trung ương
Kính thưa Quý Ban,
Tôi xin trân trọng trình bày kiến nghị về một đề xuất nghiên cứu, nhằm hệ thống hoá, đánh giá và kiến tạo giải pháp về quy trình trong cơ quan quản lý nhà nước; phân quyền và cơ chế kiểm soát trong bối cảnh hiện nay. Kiến nghị này xuất phát từ thực tiễn kéo dài nhiều năm: nhiều quy trình, thủ tục hành chính tuy “đúng quy trình” nhưng lại không phù hợp với thực tế vận hành, gây tắc nghẽn, tiêu tốn nguồn lực và giảm hiệu quả quản lý; đồng thời, phân quyền nếu không gắn với kiểm soát rủi ro sẽ tạo ra hệ lụy mới.
Mục tiêu đề nghị của tôi là yêu cầu Ban xem xét phê duyệt và chủ trì một nghiên cứu/khảo sát tổng hợp, có tính chỉ đạo chiến lược để từ đó đề xuất chính sách, cơ chế, công cụ và lộ trình triển khai mô hình “phân quyền có kiểm soát” và bộ giải pháp “thiết kế quy trình từ dưới lên” áp dụng cho cả nước.
I. Lý do, cơ sở thực tiễn
Thực tế vướng mắc rõ ràng
Nhiều thủ tục, quy trình hành chính (ví dụ: cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; cấp phép xây dựng; phê duyệt dự án nhà ở xã hội) thường bị kéo dài, bổ sung hồ sơ nhiều lần, khiến người dân và doanh nghiệp chịu chi phí thời gian, tiền bạc; gây trì hoãn dự án và giảm hiệu quả xã hội — điều đã được phản ánh trong báo cáo cải cách hành chính và báo chí chuyên ngành.
Quy trình thường được soạn theo khuôn mẫu pháp lý chung, thiếu đánh giá tác động thực tế, thiếu chỉ số đo lường chất lượng và rủi ro; dẫn tới “đúng giấy tờ nhưng sai thực tiễn”.
Ảnh hưởng của phân quyền không đồng bộ
Phân quyền nếu chỉ chuyển giao thẩm quyền mà không chuyển giao tương ứng nguồn lực, năng lực và cơ chế kiểm soát sẽ dẫn tới rủi ro lệch năng lực, hình thành lợi ích khu vực, hoặc “phân quyền nửa vời” gây chồng chéo trách nhiệm.
Thiếu hệ thống giám sát dữ liệu, cảnh báo sớm và bộ chỉ số đo lường khiến Trung ương không nắm bắt kịp thời vấn đề mang tính hệ thống.
Nhu cầu đổi mới tư duy thiết kế quy trình
Cần chuyển tư duy: từ “quy trình là bước chữ” → “quy trình là công cụ kiểm soát rủi ro và đảm bảo chất lượng”, từ “áp đặt từ trên xuống” → “đồng thiết kế từ dưới lên, thích ứng theo năng lực và bối cảnh”.
II. Cơ sở pháp lý và khoa học
Cơ sở pháp lý hiện hành (là nền tảng để nghiên cứu và đề xuất thay đổi):
Luật Thủ tục hành chính (sửa đổi, 2015) quy định nguyên tắc về thủ tục, quyền và nghĩa vụ của người dân, trách nhiệm cơ quan thực hiện.
Nghị định 63/2010/NĐ-CP (về kiểm soát thủ tục hành chính) và các văn bản sửa đổi, bổ sung quy định về kiểm soát, rà soát và công bố thủ tục hành chính; yêu cầu đánh giá tác động trước khi ban hành thủ tục.
Các thông tư, nghị định chuyên ngành (đất đai, xây dựng, đầu tư, nhà ở xã hội…) là phạm vi cần rà soát để xác định xung đột, chồng chéo thủ tục.
Cơ sở khoa học
Học thuật về quản trị công, “administrative simplification” (OECD), chuyển đổi số và Enterprise Architecture (EA) cho thấy: đơn giản hoá thủ tục phải đi kèm đánh giá chi phí tuân thủ, dữ liệu thực thi và thay đổi văn hóa công vụ.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy mô hình “định chuẩn trung ương — sản xuất quy trình tại địa phương — giám sát dữ liệu tập trung” là cách cân bằng giữa thống nhất chính sách và linh hoạt thực thi.
III. Nội dung kiến nghị nghiên cứu (đề xuất khung)
Đề nghị Ban giao nhiệm vụ nghiên cứu theo các nội dung chính sau:
Sơ lược, đánh giá hiện trạng
Rà soát, phân tích chuyên sâu các quy trình hành chính thuộc lĩnh vực trọng yếu (đất đai, xây dựng, đầu tư, nhà ở xã hội, đăng ký doanh nghiệp) tại một mẫu tỉnh/thành đại diện (vùng đô thị lớn, công nghiệp, nông thôn, miền núi).
Thu thập dữ liệu: thời gian xử lý thực tế, tỷ lệ hồ sơ trễ, số lần trả hồ sơ, mức độ phản ánh của người dân/doanh nghiệp.
Xác lập khung nguyên tắc thiết kế quy trình kiểu mới
Căn cứ vào khung 10 nguyên tắc, bộ tiêu chí đánh giá, bộ chỉ số trưởng thành (đã thảo luận trước đó) để hoàn thiện thành chuẩn quốc gia.
Đề xuất phạm vi “chuẩn tối thiểu” do Trung ương ban hành và “khung linh hoạt” cho địa phương điều chỉnh.
Xây dựng bộ công cụ đo rủi ro và hệ thống cảnh báo sớm
Thiết kế chỉ số đo rủi ro (LAI, LCR, CS, OSI, IAI, v.v.), dashboard quốc gia, cơ chế cảnh báo, quy trình can thiệp sớm.
Đề xuất nền tảng dữ liệu, chuẩn trao đổi, cơ chế bảo mật và chia sẻ dữ liệu giữa Trung ương và địa phương.
Mô hình “phân quyền kèm kiểm soát” theo lộ trình
Dựa trên khung 5 cấp độ trưởng thành, đề xuất lộ trình giao quyền theo năng lực, kèm điều kiện (nguồn lực, năng lực, KPI, kiểm toán).
Xây dựng cơ chế “thí điểm – đánh giá – nhân rộng” cho các nhóm hồ sơ và lĩnh vực.
Thí điểm tại 4–6 địa phương mẫu
Chọn mẫu gồm: một đô thị lớn, một tỉnh công nghiệp, một tỉnh nông nghiệp, một tỉnh vùng sâu/vùng xa.
Thực hiện: (i) rà soát quy trình, (ii) đồng thiết kế quy trình mới với cán bộ tuyến đầu và người dân, (iii) triển khai hệ thống đo rủi ro & cảnh báo sớm, (iv) đánh giá sau 6–12 tháng.
Đề xuất hoàn thiện khung pháp lý và hành chính
Trên cơ sở kết quả thí điểm, đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định 63/2010, các văn bản hướng dẫn chuyên ngành nhằm: (i) bắt buộc đánh giá tác động, (ii) yêu cầu tiêu chí đo lường hiệu quả, (iii) quy định cơ chế cảnh báo sớm và trách nhiệm giải trình.
Kế hoạch đào tạo, chuyển đổi năng lực
Xây dựng chương trình nâng cao năng lực cho cán bộ địa phương về thiết kế quy trình, quản trị dữ liệu, đánh giá rủi ro, kỹ năng lãnh đạo thay đổi.
Sản phẩm đầu ra cụ thể
Báo cáo tổng kết (chiến lược + chính sách đề xuất).
Bộ nguyên tắc & hướng dẫn thiết kế quy trình (mẫu).
Bộ chỉ số và dashboard mẫu.
Báo cáo thí điểm tại từng địa phương.
Dự thảo sửa đổi văn bản quy phạm pháp luật (nếu cần).
Kế hoạch triển khai toàn quốc theo giai đoạn.
IV. Phương pháp nghiên cứu đề xuất
Chuẩn bị & rà soát văn bản: thu thập luật, nghị định, hướng dẫn liên quan; rà soát các báo cáo cải cách hành chính, nghiên cứu học thuật, kinh nghiệm quốc tế.
Khảo sát thực địa: phỏng vấn sâu cán bộ tuyến đầu, người dân, doanh nghiệp; thu thập dữ liệu hồ sơ thực tế.
Thí điểm đồng thiết kế: tổ chức workshop đồng thiết kế (co-design) với đội ngũ liên ngành và đại diện cộng đồng.
Xây dựng mô hình đo lường & EWS: phát triển mẫu dashboard, thuật toán phát hiện bất thường đơn giản (rule-based) để chạy thử.
Đánh giá độc lập: mời viện nghiên cứu, trường đại học kiểm chứng kết quả.
Soạn thảo chính sách: dựa trên kết quả, xây dựng phương án pháp lý, tài chính, tổ chức để triển khai mở rộng.
V. Tổ chức thực hiện, thời gian và dự toán sơ bộ
Tổ chức thực hiện
Chủ trì: Ban Chính sách — Chiến lược Trung ương (Ban giao đầu mối).
Thực hiện: Liên danh Viện nghiên cứu chuyên ngành (quản trị công), Trường đại học có năng lực, Tổ công tác Bộ/Ngành liên quan (TN&MT, Xây dựng, KHĐT, Tài chính, Bộ TT&TT), 4–6 UBND tỉnh/thành thí điểm.
Tư vấn quốc tế (tùy chọn): OECD hoặc chuyên gia quản trị công có kinh nghiệm.
Thời gian đề xuất
Giai đoạn 1 (6 tháng): rà soát pháp lý, khảo sát thực tiễn, thiết kế khung nguyên tắc & chỉ số.
Giai đoạn 2 (9–12 tháng): triển khai thí điểm tại 4–6 địa phương (đồng thiết kế, áp dụng công cụ đo rủi ro, EWS).
Giai đoạn 3 (6 tháng): tổng hợp, đánh giá, soạn thảo chính sách và đề xuất sửa đổi khung pháp lý; lập kế hoạch nhân rộng.
Dự toán sơ bộ
Kinh phí thực hiện nghiên cứu, khảo sát, thí điểm, hệ thống IT mẫu, đào tạo và hội thảo: đề xuất lập dự toán chi tiết khi Ban giao nhiệm vụ; ước tính khung ban đầu có thể trong khoảng ngân sách trung ương dành cho nghiên cứu chính sách — cụ thể sẽ được tính toán khi xây dựng đề cương chi tiết.
VI. Kiến nghị cụ thể (Kêu gọi hành động)
Ban Chính sách — Chiến lược Trung ương xem xét phê duyệt chủ trương cho nghiên cứu này, giao đầu mối tổ chức xây dựng đề cương chi tiết trong 30 ngày.
Thành lập Tổ công tác liên ngành (do Ban chủ trì) gồm đại diện các Bộ: TN&MT, Xây dựng, KHĐT, Tài chính, Bộ TT&TT, Thanh tra Chính phủ, Văn phòng Chính phủ và một số trường đại học/viện nghiên cứu.
Chấp thuận thí điểm tại 4–6 địa phương đại diện, với cam kết hỗ trợ kỹ thuật và dữ liệu.
Yêu cầu báo cáo sơ bộ sau 6 tháng (giai đoạn 1) và báo cáo kết thúc thí điểm sau 18–24 tháng kể từ khi phê duyệt.
VII. Kết luận
Việc nghiên cứu, hệ thống hoá và đề xuất giải pháp về quy trình — phân quyền — kiểm soát không chỉ là một bài toán kỹ thuật hành chính mà là yêu cầu chiến lược để hiện đại hoá bộ máy nhà nước, nâng cao khả năng phục vụ người dân và doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm an toàn thể chế. Đề xuất này vừa bám sát các quy định pháp luật hiện hành (Luật Thủ tục hành chính, Nghị định kiểm soát thủ tục) vừa ứng dụng kinh nghiệm khoa học quản trị hiện đại và thực tiễn quốc tế.
Kính mong Quý Ban xem xét, chỉ đạo giao nhiệm vụ nghiên cứu cấp chiến lược này để kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn về tư duy và thực thi quy trình, góp phần hiện thực hoá mô hình Nhà nước hỗ trợ — phục vụ — kiến tạo. Xin vui lòng xem nội dung chi tiết trong file đính kèm.
Người gửi: TRƯƠNG NAM THUẬN Thời gian gửi: 10/12/2025
KÍNH GỬI: BỘ NỘI VỤ
V/v: ĐỀ XUẤT BỔ SUNG, ĐIỀU CHỈNH BẢNG KPI CÔNG CHỨC VÀ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT 57 VỀ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ, CHUYỂN ĐỔI SỐ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
Kính thưa Quý Bộ,
Nhằm nâng cao hiệu quả quản lý công, cải thiện chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp, đồng thời thực hiện tinh thần Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trong quản lý nhà nước, chúng tôi xin trình bày một số kiến nghị liên quan đến việc điều chỉnh và bổ sung bảng KPI cho công chức và cán bộ lãnh đạo các cấp như sau:
1. Cơ sở pháp lý
Hệ thống pháp luật hiện nay, bao gồm Luật Cán bộ, Công chức (2015), Luật Tổ chức chính quyền địa phương (2015), và Nghị quyết số 57/NQ-TW của Bộ Chính trị, đã xác định rõ trách nhiệm của công chức và lãnh đạo trong việc phục vụ nhân dân, minh bạch, đổi mới quản trị và ứng dụng khoa học công nghệ. Tuy nhiên, KPI hiện hành chủ yếu đo lường tiến độ và số lượng hồ sơ, chưa phản ánh đầy đủ trách nhiệm giải trình, hiệu quả thực chất và tác động xã hội, nên cần bổ sung các tiêu chí mới để tuân thủ pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi.
2. Cơ sở thực tiễn
Trong thực tế, nhiều chính sách và dự án dù xây dựng tốt, khi triển khai xuống cấp cơ sở, kết quả không đạt mong muốn. Nguyên nhân chính là KPI hiện tại chưa gắn kết với nhu cầu thực tiễn của người dân và doanh nghiệp, tập trung vào tiến độ giấy tờ, hồ sơ, thiếu cơ chế giám sát thực tế từ cộng đồng. Việc bổ sung KPI gắn với tác động thực tế, minh bạch thông tin và khả năng phối hợp sẽ thu hẹp khoảng cách này, đảm bảo mục tiêu chính sách không bị lệch hướng.
3. Cơ sở khoa học
Các nghiên cứu về quản trị công hiện đại và khoa học hành vi tổ chức chỉ ra rằng:
KPI hiệu quả phải đo lường kết quả thực tế, tác động xã hội, sự hài lòng và hiệu quả nguồn lực.
Con người thường hành động theo trọng thưởng và giám sát, nên nếu KPI chỉ đo lường hình thức, công chức sẽ tập trung vào “đạt chỉ tiêu trên giấy” thay vì tạo ra giá trị thực chất.
Việc công khai dữ liệu, thu thập phản hồi từ cộng đồng và ứng dụng chuyển đổi số giúp đánh giá KPI khách quan, minh bạch và liên tục.
4. Phương pháp luận đánh giá KPI
Áp dụng tiêu chí SMART: cụ thể, đo lường được, khả thi, liên quan, có thời hạn.
Kết hợp định lượng và định tính: số lượng, tiến độ, chất lượng, tác động xã hội, sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp.
Đánh giá đa chiều: nội bộ, từ cộng đồng, và kết quả thực tế.
5. Kiến nghị bổ sung, điều chỉnh KPI
Trên cơ sở pháp lý, thực tiễn, khoa học và phương pháp luận nêu trên, chúng tôi kiến nghị Bộ Nội vụ xem xét bổ sung, điều chỉnh bảng KPI theo các hướng chính sau:
Chuyển trọng tâm từ tiến độ sang chất lượng và hiệu quả thực tiễn, đo lường mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp và tác động xã hội.
Công bố công khai nhiệm vụ, cam kết và tiến độ triển khai của cán bộ lãnh đạo từ phường, xã đến sở, ngành và tỉnh/thành, để cộng đồng giám sát và đánh giá.
Đánh giá năng lực xử lý tình huống và ứng phó khủng hoảng, đảm bảo cán bộ có khả năng giải quyết các tình huống bất ngờ hiệu quả và kịp thời.
Khuyến khích phối hợp liên ngành, liên cấp và sáng kiến cải tiến, bao gồm ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trong quản lý và phục vụ dân sinh.
Đo lường năng lực lãnh đạo và phát triển nhân sự, bao gồm phân công, đào tạo, nâng cao năng lực cấp dưới và xây dựng môi trường làm việc minh bạch, hiệu quả.
Tính minh bạch, công khai dữ liệu và trách nhiệm giải trình, kết hợp phản hồi từ người dân và doanh nghiệp, làm cơ sở điều chỉnh kịp thời.
Gắn kết thưởng – phạt với kết quả thực chất, tránh tình trạng hoàn thành hình thức nhưng không tạo ra giá trị thực tế.
6. Kết luận
Việc bổ sung và điều chỉnh các tiêu chí nêu trên sẽ giúp KPI trở thành công cụ quản trị hiện đại, minh bạch, sáng tạo và phục vụ con người, tăng niềm tin xã hội, nâng cao hiệu quả quản lý, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trong quản lý nhà nước, đúng với tinh thần Nghị quyết 57.
Kính mong Bộ Nội vụ xem xét, nghiên cứu và chỉ đạo triển khai, để hệ thống KPI thực sự phản ánh kết quả thực chất, trách nhiệm giải trình và tác động xã hội, góp phần xây dựng bộ máy công quyền minh bạch, năng động và phục vụ cộng đồng.
Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn và mong nhận được sự quan tâm, phản hồi từ Quý Bộ.
Người gửi: TRƯƠNG NAM THUẬN Thời gian gửi: 09/12/2025
Kính gửi: Ban Chính sách Chiến lược Trung ương
Về việc: Kiến nghị chuyển hóa khái niệm “lấy nhu cầu người dân làm trung tâm” vào cơ chế vận hành, đánh giá và triển khai chính sách
Kính thưa Quý Ban,
Trong quá trình triển khai các chính sách, dự án nhà ở xã hội, hạ tầng, giáo dục và y tế, thực tiễn cho thấy nhiều khó khăn cốt lõi: thông tin từ cơ sở thường bị lọc, bóp méo hoặc chỉ phản ánh tiến độ hồ sơ; KPI đánh giá dự án dựa trên giấy tờ hơn là hiệu quả thực; nguồn lực và cơ chế chưa đủ linh hoạt để đáp ứng nhu cầu đa dạng, thay đổi nhanh của người dân.
Để khắc phục các điểm nghẽn này, chúng tôi kiến nghị Quý Ban triển khai một chiến lược đồng bộ, từ trung ương đến cơ sở, nhằm chuyển hóa khái niệm “lấy người dân làm trung tâm” thành thực hành, cơ chế vận hành và tiêu chí đánh giá, dựa trên các cơ sở:
1. Cơ sở pháp lý
Hiến pháp 2013: Bảo đảm quyền lợi hợp pháp, chính đáng của công dân, thúc đẩy công bằng xã hội và phát triển bền vững.
Nghị quyết 57/NQ-TW của Bộ Chính trị (2024): Xác định đổi mới sáng tạo, khoa học – công nghệ và chuyển đổi số là đột phá phát triển quốc gia, khuyến khích thử nghiệm, đổi mới, tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp, và dữ liệu thực tế.
Luật Nhà ở, Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách: Cho phép triển khai cơ chế linh hoạt, phối hợp công – tư, thí điểm đổi mới trong chính sách.
2. Cơ sở thực tiễn
Thông tin từ cơ sở thường bị lọc qua nhiều cấp hành chính, dẫn đến chính sách chưa sát nhu cầu.
KPI hiện nay dựa chủ yếu vào tiến độ hồ sơ, giải ngân, thiếu các tiêu chí về mức độ tiếp cận, hài lòng, tác động thực tế.
Thử nghiệm và đổi mới chính sách tại địa phương hạn chế do rủi ro và thủ tục phức tạp.
3. Cơ sở phương pháp luận
Áp dụng tư duy đổi mới sáng tạo, dữ liệu, phản hồi liên tục từ dân theo tinh thần Nghị quyết 57.
Sử dụng chu trình thí điểm – đánh giá – điều chỉnh, kết hợp công nghệ số và dữ liệu lớn để phát hiện nhu cầu, giảm sai lệch thông tin.
Chuyển đổi KPI từ tiến độ giấy tờ sang kết quả thực tế, mức độ tiếp cận, hài lòng và tác động xã hội.
4. Đề xuất chiến lược và đột phá các điểm nghẽn
Cơ chế pháp lý linh hoạt: Ban hành hướng dẫn hoặc chỉ thị để nhu cầu dân là tiêu chí trọng tâm trong hoạch định, triển khai và đánh giá chính sách.
Chu trình phản hồi thực tế liên tục: Thu thập dữ liệu, khảo sát trực tiếp, áp dụng công nghệ số, dữ liệu lớn để đánh giá nhu cầu và hiệu quả dự án.
Thí điểm và nhân rộng: Triển khai các dự án pilot, kiểm chứng hiệu quả trước khi nhân rộng, tạo không gian thử nghiệm đổi mới chính sách.
KPI và cơ chế đánh giá mới: KPI dựa trên mức độ dân tiếp cận, hài lòng, hiệu quả xã hội, thay vì tiến độ hồ sơ và giấy tờ.
Đào tạo và thay đổi tư duy cán bộ: Nâng cao nhận thức về phục vụ dân, đổi mới sáng tạo, chấp nhận rủi ro hợp lý, thúc đẩy văn hóa hành chính lấy dân làm trung tâm.
5. Lợi ích kỳ vọng
Chính sách, dự án sát thực tế, nâng cao hiệu quả và giảm lãng phí nguồn lực.
Giảm điểm nghẽn thông tin, tăng tính minh bạch, chính xác trong báo cáo từ cơ sở lên trung ương.
Tăng niềm tin và sự hài lòng của người dân.
Thúc đẩy phát triển bền vững, công bằng xã hội, khai thác tối đa tiềm năng đổi mới sáng tạo và công nghệ.
Kính mong Quý Ban xem xét, chỉ đạo nghiên cứu và triển khai chiến lược này, đưa khái niệm “lấy nhu cầu người dân làm trung tâm” từ lý thuyết vào thực tiễn vận hành, trở thành nền tảng vận hành của hệ thống chính sách, dự án và dịch vụ công, phù hợp với tinh thần Nghị quyết 57 và các mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Trân trọng kính chào và xin vui lòng xem chi tiết trong file đính kèm thư điện tử này.
Người kiến nghị : KIẾN TRÚC SƯ TRƯƠNG NAM THUẬN
Người gửi: TRƯƠNG NAM THUẬN Thời gian gửi: 05/12/2025